20/01/2019
3618
BÀI 13 - VỀ DỤ NGÔN NGƯỜI MỤC TỬ NHÂN LÀNH
 
Xin chào Anh Chị Em thân mến!
 
Tất cả chúng ta đều biết hình ảnh về Người Mục Tử Nhân Lành, người vác trên vai của mình con chiên lạc. Biểu tượng này bao giờ cũng cho thấy mối quan tâm của Chúa Giêsu đối với thành phần tội nhân, cũng như cho thấy lòng thương xót Chúa là Đấng không chịu để mất bất cứ một người nào. Chúa Giêsu kể dụ ngôn này để làm cho chúng ta hiểu được rằng việc Người gần gũi sát cận với tội nhân không phải là những gì gây gương mù gương xấu, trái lại, cần phải thôi thúc nơi hết mọi người một suy tư nghiêm chỉnh về cách thức chúng ta sống đức tin của chúng ta. Truyện kể này cho thấy, một đàng thì các tội nhân đến với Chúa Giêsu để nghe Người, đàng khác, các vị Tiến Sĩ Luật và ký lục ngờ vực thì rời xa Người vì tác hành của Người. Họ rời xa vì Người tiến đến với các tội nhân. Họ tỏ ra kiêu hãnh, họ tỏ ra ngạo mạn; họ cho mình là công chính.
 
Bài dụ ngôn của chúng ta tỏ ra cho chúng ta thấy 3 hình ảnh: vị mục tử, con chiên lạc và đàn chiên còn lại. Tuy nhiên, chỉ duy có một hình ảnh duy nhất tác hành là vị mục tử, chứ không phải là chiên. Bởi thế, vị mục tử này là nhân vật thực sự duy nhất còn hết mọi sự khác đều lệ thuộc vào Người. Vấn nạn mở màn cho dụ ngôn này đó là: "Ai trong quí vị có 100 con chiên mà mất một con lại không để 99 con trong sa mạc mà đi tìm con bị lạc cho đến khi tìm được nó hay chăng?" (Luca 15:4). Đó là một thứ mâu thuẫn đáng ngờ vực nơi hành động của vị mục tử, ở chỗ, có khôn ngoan hay chăng khi bỏ bê 99 con chỉ vì một con, chưa hết, không phải bỏ chúng ở một nơi an toàn mà là trong sa mạc? Theo truyền thống thánh kinh thì sa mạc là một nơi chết chóc, hiếm có đồ ăn thức uống, chẳng có nơi trú ngụ và là nơi làm mồi ngon cho thú dữ và trộm cướp. 99 con chiên hèn yếu có thể làm gì đây? Tuy nhiên, cái mâu thuẫn ấy tiếp tục cho thấy rằng khi tìm được con chiên lạc, thì vị mục tử "đặt nó lên vai của mình, hoan hỉ, và khi về đến nhà, ông gọi bạn bè và hàng xóm của mình đến mà nói cùng họ rằng: 'Hãy hân hoan với tôi vì tôi đã tìm thấy con chiên lạc'" (câu 6). Thế nên, dường như vị mục tử này không trở lại sa mạc để qui tụ cả đoàn chiên lại với nhau! Gắn bó với con chiên duy nhất ấy, vị mục tử này dường như quên 99 con khác. Thế nhưng, thực tế lại không phải như vậy.
 
Trái lại, giáo huấn Chúa Giêsu muốn cống hiến cho chúng ta đó là không một con chiên nào bị mất. Chúa không thể nào chấp nhận sự kiện dù chỉ một con người bị hư đi. Hành động của Thiên Chúa là hành động của một vị tìm kiếm con cái lạc loài của mình để rồi sau đó hân hoan vui mừng với tất cả mọi người khi tìm thấy họ. Đó là một ước vọng bất khả ngăn cản: thậm chí ngay cả 99 con chiên cũng không thể ngăn cản nổi vị mục tử này trong việc giữ lấy vị ấy lại trong đàn chiên. Vị ấy có thể lập luận như thế này: "Tôi cân nhắc vấn đề: tôi có 99 con chiên, tôi bị mất một con, nhưng chẳng mất gì nhiều lắm". Trái lại, vị này đi tìm nó vì mỗi một người đều rất quan trọng đối với vị mục tử nhân lành, và vì đó là con chiên cùng quẫn nhất, bị bỏ rơi nhất, bị loại trừ nhất nên vị ấy cần phải đi tìm kiếm nó. Tất cả chúng ta đều được khuyên nhủ rằng kiểu cách mà Thiên Chúa tác hành đó là lòng thương xót đối với các tội nhân và Ngài tuyệt đối trung thành với lòng thương xót này: không một sự gì hay không một ai có thể cản trở được ý muốn cứu độ của Người. Thiên Chúa không hề biết đến chữ "loại trừ con người", vì Ngài là tất cả tình yêu và tất cả lòng thương xót.
 
Đàn chiên của Chúa bao giờ cũng tiến bước chứ không chiếm hữu Chúa. Chúng ta không thể lừa dối mình, bằng cách giam nhốt Ngài vào những đề án của chúng ta  và các phương án của chúng ta. Vị mục tử chỉ được tìm thấy ở nơi nào có con chiên lạc. Bởi thế, Chúa được tìm gặp ở nơi nào Người muốn gặp gỡ chúng ta, chứ không phải ở nơi chúng ta tưởng rằng gặp được Người! Đàn chiên chẳng còn một đường lối nào khác để đến với nhau hơn là theo đuổi đường lối ở các dấu vết lòng thương xót của vị mục tử. Trong khi Người đi tìm kiếm con chiên lạc mà Người thúc giục 99 con kia hãy tham dự vào việc đoàn tụ hóa cả đoàn chiên. Bởi thế mà không phải chỉ duy có con chiên được vác trên vai mà còn cả đoàn chiên sẽ theo vị mục tử trở về nhà nữa để ăn mừng với "bạn hữu và hàng xóm láng giềng".  
 
Chúng ta cần phải thường suy nghĩ về dụ ngôn này, vì luôn có một ai đó trong cộng đồng Kitô hữu đang bị thất lạc, xa rời và bỏ lại chỗ trống của họ. Đôi khi điều ấy làm cho chúng ta chán nản, khiến chúng ta tin rằng đó là một thứ mất mát bất khả tránh, một căn bệnh hết thuốc chữa. Chính vào lúc ấy mà chúng ta có nguy cơ khép mình lại ở trong một đàn chiên, nơi sẽ không có mùi của chiên mà là mùi hôi thối của kẻ khép kín! Còn Kitô hữu thì sao? Chúng ta không được khép kín, vì chúng ta sẽ có mùi hôi thối của những gì khép kín. Đừng bao giờ! Cần phải tiến ra và đừng khép kín bản thân mình, trong một cộng đồng nhỏ bé, trong một giáo xứ, coi mình là "người công chính". Điều này xẩy ra khi chúng ta thiếu vắng lực đẩy truyền giáo, một lực đẩy đưa chúng ta đến gặp gỡ người khác. Trong con mắt của Chúa Giêsu thì không hề có thứ con chiên lạc vĩnh viễn, mà chỉ có con chiên cần phải được tìm kiếm lại. Chúng ta cần phải hiểu điều này cho rõ ràng, đó là đối với Thiên Chúa thì không ai là kẻ vĩnh viễn bị thất lạc. Không bao giờ! Thiên Chúa tìm kiếm chúng ta cho tới giây phút cuối cùng. Hãy nghĩ đến người trộm lành; thế nhưng chỉ ở nơi con mắt của Chúa Giêsu mới không có ai là vĩnh viễn bị thất lạc. Bởi thế mà cái nhãn quan ấy, tổng quát mà nói, mới có tính cách năng động, cởi mở, phấn khích và sáng tạo. Nó thúc đẩy chúng ta tiến bước tìm kiếm, thực hiện đường lối huynh đệ. Không một khoảng cách nào có thể giữ vị chủ chiên xa vời, và không một con chiên nào có thể loại trừ bất cứ một người anh chị em nào. Việc tìm kiếm một ai bị thất lạc là niềm vui của vị mục tử và của Thiên Chúa, thế nhưng nó cũng là niềm vui của cả đoàn chiên nữa! Tất cả chúng ta đều là chiên cần phải tìm lại và cần được qui tụ lại bởi lòng thương xót Chúa, được kêu gọi qui tụ cả đàn chiên lại với Người!
 
https://zenit.org/articles/general-audience-on-the-parable-of-the-good-shepherd/

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch