13/04/2018
328
GIÁO LÝ KINH THÁNH
THAY LỜI NÓI ĐẦU
---—+–---
Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã nói với con người thông qua các ngôn sứ, và đến thời sau hết, Ngài đã nói qua Con Một của Ngài là Đức Giêsu Kitô – Đấng là mạc khải trọn vẹn của Thiên Chúa và là trung tâm của Thánh Kinh. Như lời Thánh Giê-rô-ni-mô đã dạy: “Không biết Thánh Kinh là không biết Chúa Ki-tô”.
 
Đức Bê-nê-đích-tô XVI trong bài huấn dụ của mình tại quảng trường thánh Phê-rô vào ngày 7/11/2007 cũng nói: “…theo gương thánh Giê-rô-ni-mô, ước gì anh chị em có thể dùng thời giờ mà đọc Thánh Kinh cách đều đặn. Khi trở nên thân quen với Lời Chúa, anh chị em sẽ gặp được nơi Lời Chúa chính Đức Ki-tô để sống thân tình với Người”.
 
Ý thức tầm quan trọng của việc học hỏi giáo lý Lời Chúa, Đức Giám mục Phanxicô Xavie trong thông cáo gửi các thành phần dân Chúa trong giáo phận Thái Bình về việc thực hành năm Hồng Đào đã coi việc học hỏi giáo lý Lời Chúa là một trong bốn cỗ đại xa của người kitô hữu trên hành trình tiến về quê trời.
 
Hưởng ứng lời mời gọi của Đức Giám mục, Ban Giáo lý của giáo phận muốn tiếp tục tinh thần học hỏi và đào sâu Giáo lý, vốn đã trở thành truyền thống tốt đẹp của giáo phận trong những năm gần đây. Với định hướng cho dịp hè trong những năm tiếp theo, chúng tôi quyết định chọn chủ đề Giáo lý Thánh Kinh phỏng theo mô hình của giáo phận Nha Trang. Khởi đầu cho định hướng này là một tháng hè trong năm 2008 (từ ngày 15/6 đến 20/7). Theo đó, giới trẻ trong giáo phận sẽ được học hỏi về Giáo lý Thánh Kinh Cựu Ước với sự trợ giúp của các thầy chủng sinh, các tu sỹ nam nữ, các ứng sinh chủng viện và các giáo lý viên. Vì vậy, tập giáo trình Giáo lý Thánh Kinh Cựu ước được soạn thảo trong dịp này là một giải pháp phần nào cho định hướng nói trên.  
 
            Vì thuộc thể loại giáo lý, nên nội dung của giáo trình không đặt tham vọng như những môn học nghiên cứu về Thánh Kinh, nhưng mong muốn trình bày những chân lý căn bản được ghi chép trong các sách Cựu Ước như một cách nhìn tổng quát; từ đó rút ra một vài gợi ý cho bài học áp dụng trong đời sống đạo hôm nay.
 
            Cuối cùng, với sự hạn chế về khả năng cũng như về thời gian, tập tài liệu này chắc chắn không tránh khỏi những thiếu xót nhất định, kính mong các Đấng bậc và quý vị rộng tình lượng thứ và bổ xung. 
                                                                         BAN GIÁO LÝ (Gp. Thái Bình)
 
BÀI 1 : TỔNG QUÁT VỀ THÁNH KINH
 
A-DẪN NHẬP
 
1 - Thánh hoá đầu giờ
(GLV tùy nghi có thể hát một bài hoặc đọc một kinh hay một lời nguyện)
 
          Lạy Chúa, chúng con cảm tạ Chúa đã qui tụ chúng con về nơi đây để cùng nhau học hỏi Lời Chúa. Xin Chúa thánh hóa cuộc sống và công việc của chúng con. Mỗi khi bắt tay làm việc xin Chúa giúp sức, để từ khởi sự đến khi hoàn thành, chúng con đều cậy nhờ ân sủng của Chúa và xin Chúa chúc lành cho buổi học của chúng con. Amen.
 
2 - Gợi ý câu chuyện minh hoạ “Triết gia và vị thiền sư”
 
          Một triết gia thông thái luôn khao khát học hỏi những điều hay của người khác. Ông ta sống trong một thành phố sầm uất nhưng lúc nào cũng tỏ ra thất vọng bởi vì theo ông ta, thành phố này không còn ai khôn ngoan để ông ta có thể trao đổi và học hỏi. Một người bạn cho ông ta biết, trong sa mạc có một vị thiền sư rất uyên bác, có thể thấu hiểu mọi sự. Vị triết gia quyết định vào sa mạc để gặp vị thiền sư với mục đích: hy vọng học hỏi được ở người này nhiều điều để làm phong phú vốn hiểu biết của mình.
 
          Sau khi chào hỏi, vị thiền sư tiếp triết gia trên một phiến đá với một bình trà và một cái ly. Không đợi vị thiền sư lên tiếng, triết gia nọ thao thao bất tuyệt nói về những hiểu biết của mình. Khi triết gia nói xong thì trời cũng đã về khuya, vị thiền sư lặng thinh cầm bình trà lên rót vào ly. Ông cố tình đổ cho tràn ly, nước chảy đầy mặt phiến đá. Vị triết gia ngạc nhiên nói: “Ông không thấy nước tràn sao?”. Vị thiền sư trả lời: “Có! Nhưng ông thấy không, khi ly đã đầy rồi thì làm sao chứa thêm nước được nữa. Ông tới đây với mục đích truy tìm sự khôn ngoan với tôi, nhưng từ lúc tới đây, ông luôn miệng nói về những điều ông biết. Vậy ông chẳng giống như ly nước đầy tràn này sao?”.
 
3 - Dẫn vào bài
 
          Câu chuyện trên cho chúng ta thấy, cuộc sống vẫn còn nhiều điều mà chúng ta chưa biết. Muốn hiểu biết, ta nên có thái độ khiêm tốn để học hỏi. Cũng vậy, nhiều người cho rằng, Thánh Kinh là những bản văn cổ xưa, dạy những điều ngược với chân lý khoa học, cho nên họ không cần đọc. Tuy nhiên, trong Thánh Kinh  chứa đựng những giá trịù quí báu không chỉ về mặt tôn giáo, mà cả về văn hoá, đạo đức, … Hơn nữa, Thánh Kinh chính là Lời của Thiên Chúa nói với con người, là sách ghi lại lịch sử cứu độ mà không ai có thể nhận ra nếu không có ơn soi sáng của Thiên Chúa, không có Đức tin và cả sự khiêm tốn đơn sơ. Đó chính là nội dung của bài học hôm nay mà chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu.
 
4 - Công bố Lời Chúa  (Dt 1, 1-2)
 
Lời Chúa  trong thư gửi tín hữu Do-thái
 
“Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử .”
Đó là Lời Chúa.
 
B-NỘI DUNG
 
1. Thánh Kinh là gì?
 
          Trong bối cảnh xã hội thời nay, người ta thường nghe những tiếng ồn ào của xe cộ, của những bản nhạc và của mọi lo toan trong cuộc sống, nên phần lớn trong số họ không nghe được tiếng Chúa nói. Tuy nhiên, nhiều người dù có tin hay không thì vẫn tồn tại một chân lý rằng: Thiên Chúa đã nói. Thiên Chúa không nói với con người bằng ngôn ngữ của Ngài, nhưng Ngài đã dùng chính ngôn ngữ của con người mà nói với họ dưới hình thức: hành động, lời, sau cùng nơi Đức Giê-su Ki-tô.
 
          a. Thiên Chúa nói bằng hành động
 
          Để dạy loài người nhận ra tình yêu của Thiên Chúa, trước hết, Ngài đã chứng tỏ tình yêu ấy bằng hành động: Ngài trao ban mọi sự cho con người và cứu giúp con người trước. Chính Thiên Chúa đã hành động như thế liên tục trong lịch sử nhân loại mà không nói bằng lời. Giống như người mẹ thương con, bà hy sinh tận tuỵ lo lắng cho con từ khi nó còn trong bụng mà không cần phải nói gì. Đứa con thật sự hiếu thảo cũng không cần đợi được nghe người mẹ kể lể về nỗi vất vả của mình mới nhận ra những hy sinh đó của mẹ. Nó đọc được điều ấy qua tất cả những gì mà bà mẹ đã, đang và sẽ làm cho nó.
 
          b. Thiên Chúa nói bằng lời
 
          Có khi, vì gặp phải đứa con hư, bất đắc dĩ người mẹ phải nói về tình thương của bà, về những hy sinh vất vả mà bà đã chịu đựng vì nó, những điều mà lẽ ra bà chỉ muốn dấu kín trong lòng. Cũng có khi bà mẹ sung sướng vì đứa con ngoan, tin cậy nó, muốn nó học được những điều tốt của bà nên bà đã ngồi tâm sự, nói cho nó nghe cả những điều thần kín. Cũng vậy, Thiên Chúa dùng lời lẽ của chính con người mà nói với họ vừa để mời gọi con người từ bỏ tội lỗi, vừa để giúp con người nên giống Ngài. Thiên Chúa muốn khẳng định rằng Ngài yêu thương ta hơn cha mẹ: “Dù có người mẹ nào quên được con mình đi nữa, Ta vẫn không bao giờ quên con” (Is 49, 15).
 
          Thiên Chúa tỏ rõ sự can thiệp của Ngài trong lịch sử, đặc biệt là trong lịch sử của dân tộc Ít-ra-en - dân riêng Ngài đã chọn. Qua các Ngôn sứ, Thiên Chúa đã dùng chính ngôn ngữ của con người để giúp họ hiểu tình thương cứu độ của Ngài sẽ được thực hiện nơi Đức Giê-su Ki-tô.
 
          c. Thiên Chúa nói tất cả nơi Đức Giê-su
 
          Thánh Gio-an cho biết: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một của mình, để ai tin vào Người Con ấy thì khỏi phải chết, nhưng được sống đời đời” (Ga 3,16). Con Thiên Chúa đến cứu chuộc chúng ta trước hết là bằng cách nói cho chúng ta biết về Thiên Chúa: “Không ai đã thấy Thiên Chúa bao giờ, nhưng Con Một là Thiên Chúa và là Đấng hằng ở nơi cung lòng Chúa Cha, chính Ngài đã tỏ cho chúng ta biết” (Ga 1, 18).
 
          Đức Giê-su là đỉnh cao nhất của mạc khải[1]. Ngài là Lời trọn hảo của Chúa Cha nói với con người, nên sau Ngài không còn mạc khải chính thức nào nữa. Như vậy, Thiên Chúa đã nói bằng Lời qua các Tổ phụ, các Tiên tri và nhất là nói trọn vẹn nơi Đức Giê-su.
 
2. Sự hình thành Thánh Kinh
 
          a. Tác giả Thánh Kinh
 
          Thánh Kinh là một công trình vĩ đại của nhiều người trong suốt hơn 12 thế kỷ. Với hình thức không phải là một cuốn sách đơn lẻ bình thường, Thánh Kinh như một thư viện chứa đựng một kho tàng tư tưởng phong phú với đủ mọi thể loại văn chương: từ lịch sử, triết lý, luật pháp, thư, kịch, truyện, cho đến thánh ca, tình ca, châm ngôn, các lời tiên tri, những tâm tình cầu nguyện…
 
          Tuy nhiên, Thánh Kinh không đơn thuần là lời của con người, mà trước hết là Lời Thiên Chúa. Đây là bản chất đích thực của Thánh Kinh làm cho Thánh Kinh luôn có giá trị cho mọi người, mọi thời đại. Chính Chúa Thánh Thần đã tác động và soi sáng cho những người Ngài chọn, để họ viết lên những điều Ngài mạc khải nhằm phục vụ cho chương trình cứu độ của Thiên Chúa tuỳ theo cách thức của mỗi người. Vì vậy, tác giả chính của Thánh Kinh là Thiên Chúa, chính Thiên Chúa đã linh hứng cho các tác giả loài người, Ngài hành động trong họ và nhờ họ.
 
          Thực tế cho thấy, nếu không biết Tiếng Anh, chúng ta cũng không thể nào giao tiếp được với người Mỹ, vì khi chúng ta nói, họ đâu hiểu được. Do đó, khi nói với con người, Thiên Chúa đã dùng chính ngôn ngữ của con người mà nói với họ. Có như thế, con người mới khám phá được tình thương yêu của Thiên Chúa trong lịch sử đời mình.
 
          b. Linh hứng
 
Theo nghĩa Thánh Kinh, linh hứng (hay thần hứng) có nghĩa là đầy tràn Chúa Thánh Thần hoặc thống trị bởi Chúa Thánh Thần.
 
          Linh hứng rất quan trọng trong việc diễn giải Thánh Kinh, nhưng vai trò của Thiên Chúa qua Chúa Thánh Thần – tác giả đích thực của Thánh Kinh không tước bỏ hoàn toàn các giới hạn phàm trần của các tác giả viết Thánh Kinh. Theo đó, Thiên Chúa trong ý định quan phòng mầu nhiệm của Ngài đã cung ứng cho toàn thể loài người một Thánh Kinh, trong đó lịch sử sáng tạo – cứu độ, lịch sử mối tương quan thân thiết giữa Thiên Chúa cho loài người qua Ít-ra-en và trong Chúa Ki-tô, được ghi lại bởi các tác giả Thánh Kinh. Các tác giả này, khi viết các sách thánh dưới sự linh hứng của Chúa Thánh Thần, đều là những con người bị giới hạn bởi gia đình, xã hội, lịch sử, văn hoá, kiến thức, học lực, tôn giáo, nhân sinh quan, thế giới quan của thời họ đang sống (khoảng thế kỷ XIII đến thế kỷ I TCN đối với các sách Cựu Ước và khoảng thế kỷ I – II SCN đối với các sách Tân Ước). Hơn nữa, các tác giả Thánh Kinh này viết các sách thánh của họ cho các cộng đoàn tín hữu trong thời đại của họ, cho nên các tác phẩm của họ không nhất thiết cung cấp các câu trả lời cho những vấn nạn về thần học cũng như luân lý của những thời đại sau đó, như thời của chúng ta chẳng hạn. Chính Thiên Chúa sẽ đáp trả cho những vấn nạn của các thời đại qua Chúa Thánh Thần hoạt động trong việc chú giải Thánh Kinh vấn tiếp diễn, trong truyền thống và các dấu chỉ thời đại.
 
3. Thánh Kinh gồm những phần chính nào ?
          Thánh Kinh gồm có hai phần chính là Cựu Ước và Tân Ước.
 
          a. Cựu Ước: (sẽ được trình bày ở bài kế tiếp)
b. Tân Ước
 
Theo thuật ngữ, Tân là mới; ước là hẹn. Tân Ước là giao ước mới.
          Theo nghĩa của bài, Tân Ước là một bộ sách gồm 27 cuốn sách thánh riêng của Ki-tô giáo, nguyên văn chép bằng tiếng Hy-lạp, được thành hình trong nửa sau của thế kỷ thứ nhất sau công nguyên.
 
          Nội dung của Tân Ước trình bày về các mầu nhiệm của Chúa Giê-su Ki-tô. Ngài là Ngôi Lời đầy tràn ân sủng và chân lý đã nhập thể và ở giữa chúng ta. Chính Ngài đã thiết lập Nước Thiên Chúa trên trần gian, mạc khải Chúa Cha và chính mình Ngài qua lời nói và việc làm. Ngài hoàn tất công trình cứu chuộc của mình qua mầu nhiệm sự chết, sống lại, lên trời vinh hiển và ban Thánh Thần đến cho nhân loại. Ngài là Đấng Duy nhất có những lời ban sự sống vĩnh cửu. Những mầu nhiệm này chưa bao giờ được tỏ cho các thế hệ khác biết, nay đã được mạc khải trong Thánh Thần cho các Tông đồ của Ngài để họ rao giảng Tin mừng, cổ võ lòng tin vào Chúa Giê-su là Đấng được xức dầu và là Chúa, để qui tụ Hội Thánh.
 
C. KẾT THÚC
 
1. Bài học áp dụng
 
          Trong cuộc đời, có biết bao lời dạy của cha mẹ, thày cô giáo, chúng ta hằng ghi nhớ. Chẳng hạn: Hồi ấy, bố tôi có dặn tôi thế này... hoặc mẹ tôi khuyên tôi thế kia.... Cũng vậy, Cha trên trời còn luôn yêu thương, lo lắng cho ta hơn thế, nên đã sai Đức Giê-su, Con Một Người, đến dạy dỗ, hi sinh đền tội cho ta. Đức Giê-su đã nói, đã dạy ta con đường sự thật, Ngài đã lấy mạng sống hi sinh để lời nói ấy có giá trị. Đón nhận Lời Chúa không những là cử chỉ đền đáp ân tình của Ngài thương yêu, lo lắng cho ta, mà còn là nhu cầu của chính bản thân ta nữa.
 
          Lời Chúa ban sự sống, như cơm bánh ban sức sống cho thân xác. Con người còn có linh hồn và linh hồn cũng cần phải được nuôi dưỡng bằng lương thực thiêng liêng. Cái đói của thân xác thấy được, nên ai cũng sợ và ra sức kiếm đồ ăn, thức uống nuôi nó; nhưng còn cái đói, cái chết của linh hồn, người ta không thấy được nên không sợ.
 
          Ở đây có một điều lầm lẫn tai hại: nhiều người ngày nay chỉ coi linh hồn như là trí khôn, nên họ nuôi nó bằng khoa học, triết học, lời hay ý đẹp ở các sách vở, phim ảnh, truyền hình... Như thế thôi chưa đủ, linh hồn, ngoài chức năng trí tuệ, còn có cái linh hướng về tâm linh nên cần của ăn thiêng liêng, như Chúa Giê-su dạy: “Con người không chỉ sống bằng cơm bánh, mà còn sống bằng các Lời Chúa phán ra” (Mt 4, 4). Lời Chúa nuôi ta, có nghĩa là không chỉ soi sáng trí khôn ta biết đường phải, đường thật mà đi, nhưng nhất là còn ban sức mạnh thúc đẩy ý chí ta làm sự lành, tránh sự dữ, phục vụ, thương yêu tha nhân, xây dựng xã hội...
 
          Đối với các bạn trẻ, tâm hồn các bạn đang mở ra khao khát đón nhận đủ mọi thứ: học chữ, học nghề, học sống, học ăn, học nói, học gói, học mở... Nói tóm lại, tâm hồn các bạn đang khao khát chân lý. Chớ gì đang khi học các môn học bồi dưỡng trí tuệ, các bạn đừng quên phần linh thiêng trong các bạn. Thiếu nó, các bạn không thể trở nên con người trọn hảo.
 
2. Gợi ý cầu nguyện
 
          Lạy Chúa, xin ban cho chúng con thái độ khiêm tốn mỗi khi đọc Lời Chúa, lắng nghe Lời Chúa và học hỏi Lời Chúa. Xin ban cho chúng con biết từ bỏ ý riêng mà sống theo Lời Chúa dạy. Lạy Chúa, xin dạy chúng con luôn khắc ghi lời Chúa: “chúng con ở trong thế gian, nhưng không thuộc về thế gian”, để chúng con luôn can đảm khước từ những dụ dỗ của thế gian. Xin cho ngọn lửa yêu thương của Lời Chúa luôn thôi thúc chúng con hành động, để cho thế gian luôn nhận ra rằng, chúng con thuộc về Chúa. Amen.
 
BẠN CÓ BIẾT ?
 
KHUNG CẢNH ĐỊA LÝ CỦA CỰU ƯỚC
 
Lịch sử Cựu ước diễn ra trong vùng tiếp cận giữa châu Á, châu Âu và châu Phi, ngày nay quen gọi là Trung Đông hay Cận Đông. Vùng này tuy không lớn (diện tích chỉ bằng vùng Đông Nam Á) nhưng có một vai trò quan trọng trong lịch sử, vì là nơi phát xuất của những nền văn minh cổ nhất thế giới.
 
Ở phía tây vùng Trung Đông là Ai Cập. Mạch sống của Ai-cập là sông Nin, dài 6.000 km. Tại đây, một nền văn minh đã phát sinh từ 3000 năm trước công nguyên, với những công trình kiến trúc vĩ đại (các đền đài, các kim tự tháp), những tác phẩm nghệ thuật tinh vi và một nền văn minh phong phú. Ai-cập là một nước sớm thống nhất và đã có những thời kỳ thế lực chính trị khá mạnh.
 
Ở phía đông là miền Lưỡng-hà. Gọi như thế vì đó là một đồng bằng phì nhiêu có hai cong sông lớn chảy qua: sông Ti-gơ-ra và sông Êu-phơ-rát. Văn minh ở vùng này cũng rất xưa và rực rỡ: tại đây loài người đã phát minh ra chữ viết đầu tiên, cách đây hơn 5000 năm. Về mặt chính trị, miền này khi thì chia ra những thành phố tự lập, khi thì thống nhất dưới quyền một đế quốc lớn như Át-xi-ri (thế kỷ 8-7 trước công nguyên), Ba-bi-lon (thế kỷ 7-6).
 
Nối liền Ai-cập và miền Lưỡng-hà là bờ biển Phê-ni-ki, một giải đất hẹp nằm giữa núi Li-băng và Địa-trung-hải. Văn minh ở vùng này cũng có từ lâu đời, ngôn ngữ rất gần với tiếng Híp-ri của Ít-ra-en. Phần phía nam của bờ biển Phê-ni-ki là xứ Pa-lét-tin, nơi các chi tộc Ít-ra-en sinh sống trong thời Cựu ước.
 
Xứ Pa-lét-tin có chiều dài 240 km, chiều rộng từ 40 đến 150 km, diện tích chừng 2.500 km2 ; phía bắc giáp núi Li-băng; phía đông và nam giáp sa mạc, phía tây giáp Địa-trung-hải. Từ tây sang đông có 4 miền chính, chạy từ bắc tới nam:
 
* Miền duyên hải: Phía bắc có núi Các-men cao 530m. Phía nam là đồng bằng. Bờ biển này không có cửa biển tốt.
 
* Miền núi: là nơi ở chính của dân Ít-ra-en xưa, cao trung bình 500-900m. Từ bắc xuống nam, miền núi lại chia thành:
   - Xứ Ga-li-lê: Ở phía bắc cao hơn, phía nam thấp hơn (có Na-da-rét, núi Ta-bo).
   - Xứ Sa-ma-ri: Có hai ngọn núi cao nhất là Gơ-ri-dim (881m) và Ê-ban (940m), giữa hai ngọn là thung lũng Si-khem.
   - Xứ Giu-đa: Cao hơn xứ Sa-ma-ri, có núi Ô-liu (814m) ở phía đông thành Giê-ru-sa-lem (750m); về phía nam có Bê-lem và Khép-rôn.
 
* Thung lũng sống Gio-đan: Sông này bắt nguồn từ sườn phía nam núi Li-băng, rồi chảy vào hồ Ti-bê-ri-a (cũng gọi là hồ Ghê-nê-xa-rét hay Biển Ga-li-lê). Mặt hồ ở 220m dưới mực nước Địa-trung-hải. Hồ này dài 21km, rộng 11km, sâu 45m, nước ngọt, nhiều cá.
 
Ra khỏi hồ Ti-bê-ri-a, sông Gio-đan chảy qua một thung lũng sâu (trong thung lũng này có Giê-ri-khô, một thành cổ bậc nhất thế giới) rồi đổ vào biển Chết. Biển này dài 76km, rộng 16km, mặt nước ở đó thấp hơn mặt Địa-trung-hải 390m, chỗ sâu nhất là 400m (tức là 790m so với mặt Địa-trung-hải). Nước có muối và khoáng chất đậm đặc gấp 6 lần nước biển thường, không có sinh vật nào sống được, do đó mà gọi là biển Chết.
 
* Cao nguyên phía đông sông Gio-đan, xưa có rừng rậm và đồng cỏ.
Nói chung, khí hậu miền Pa-lét-tin ôn hoà và lành. Mưa tương đối ít: lượng mưa trung bình hàng năm là 55cm tại Giê-ru-sa-lem, 20cm trong thung lũng sông Gio-đan và vùng giáp sa mạc phía nam. Đất đai không giầu lắm. Nền kinh tế căn bản là nông nghiệp (lúa mì, nho, ô-liu, vả) và chăn nuôi (cừu, dê, bò, lừa). Dân số thời thịnh nhất (thế kỷ 8) ước chừng một triệu. Riêng tại Giê-ru-sa-lem có khoảng 30.000 dân.
 
 BAN GIÁO LÝ (Gp. Thái Bình)
Tài liệu Giáo lý Thánh Kinh do BGL Gp. Thái Bình sưu tầm và biên soạn (2008)