09/06/2018
483
GIÁO LÝ KINH THÁNH
 
 
BÀI 11
LƯU ĐÀY VÀ HỒI HƯƠNG
A. DẪN NHẬP
1. Thánh hoá đầu giờ
            (GLV có thể hát, đọc một kinh hay một lời nguyện tương tự)
Lạy Chúa, xưa trên đường Em-mau, Chúa đã mở mắt cho hai môn đệ nhận ra chân lý chứa đựng trong Thánh Kinh. Giờ đây, xin Chúa cũng tiếp tục mở lòng trí chúng con biết nhận ra thông điệp của Chúa trong bài học này, để nhờ đó chúng con biết uốn nắn đời sống mình theo ý Chúa. Amen.
2. Câu chuyện minh hoạ “Người giàu có gặp khủng hoảng”
Một người keo kiệt có rất nhiều của cải ruộng đất. Thình lình, ông ta bị bệnh nặng. Thân nhiệt của ông ta vọt lên 40 độ. Vợ ông hoảng hốt đưa ông đến bác sỹ. Sau khi khám kỹ bệnh nhân, bác sỹ kết luận: “Thưa bà, tôi rất tiếc phải báo cho bà biết chồng bà bị bệnh ở giai đoạn cuối. Ông ấy không thể sống được. Tất cả những gì tôi khuyên bà là cầu nguyện”.
Nghe nói thế, người chồng lo lắng tập trung chút sức lực còn lại nói thều thào: “Bà hãy ra ngoài bố thí tiền cho những người nghèo túng, rồi bà đến nhà thờ cầu xin Thiên Chúa cho tôi được sống”. Kế đó, người vợ lập tức đi đến khu người nghèo của thị trấn và làm như người chồng đã nói. Rồi bà đến nhà thờ gần nhất cầu nguyện sốt sắng cho người chồng được bình phục. Ngay lúc đó, sức khoẻ của bệnh nhân nhanh chóng được cải thiện và như một phép lạ, chỉ trong ít ngày ông ta đã hoàn toàn bình phục. Người vợ thuật lại cho chồng những việc mà bà đã làm. Nhưng khi ông già keo kiệt nghe nói vợ mình đã bố thí cho người nghèo một số tiền lớn, ông ta tức giận kêu lên: “Tại sao bà lại làm thế?”. Bà nói: “Nhưng chính ông đã bảo tôi đi bố thí tiền bạc”. Ông ta đáp lại: “Nhưng lúc đó tôi sốt trên 40 độ, bà không biết rằng lúc đó tôi đang mê sảng sao?”
3. Dẫn vào bài
Câu chuyện trên cho thấy, ngay cả khi chúng ta có nhiều tiền của hơn mức vừa đủ, chúng ta vẫn bám chặt vào của cải của mình. Khi chúng ta gặp khủng hoảng, chẳng hạn như căn bệnh đe dọa đến mạng sống, chúng ta trở lại cùng Thiên Chúa, nhưng khi khoẻ mạnh, chúng ta lại quên Ngài. Chẳng phải vì thế mà đôi khi Thiên Chúa đặt chúng ta vào bước đường cùng để chúng ta có thể kêu cầu, cậy trông vào Ngài đó sao? Trường hợp này sẽ phần nào giúp chúng ta hiểu được tình cảnh của dân Do-thái trong thời lưu đày qua việc tìm hiểu nội dung bài học hôm nay.
4. Đọc Thánh Kinh (Is 40, 1-5)
Lời Chúa trong sách triên tri I-sai-a.
Thiên Chúa anh em phán: “Hãy an ủi dân Ta: hãy ngọt ngào an ủi dân Giê-ru-sa-lem, và hô lên cho Thành: thời phục dịch của Thành đã mãn, tội của Thành đã đền xong, vì Thành đã bị tay Đức Chúa giáng phạt hai lần tội phạm”. Có tiếng hô: “Trong sa mạc, hãy mở một con đường cho Đức Chúa, giữa đồng hoang, hãy vạch một con lộ thẳng băng cho Thiên Chúa chúng ta. Mọi thung lũng sẽ được lấp đầy, mọi núi đồi sẽ phải bạt xuống, nơi lồi lõm sẽ hoá thành đồng bằng, chốn gồ ghề nên vùng đất phẳng phiu. Bấy giờ vinh qua Đức Chúa sẽ tỏ hiện, và mọi người phàm sẽ được nhìn thấy rằng miệng Đức Chúa đã tuyên phán”.
Đó là lời Chúa.
B. NỘI DUNG
1. Lưu đày
a. Nguyên nhân
Sau khi vua Sa-lô-môn mất, vương quốc Ít-ra-en bị phân đôi. Mười chi tộc phía Bắc đã ly khai lập thành tiểu vương quốc Ít-ra-en; hai chi tộc còn lại ở phía Nam lập thành tiểu vương quốc Giu-đa. Nhiều vua trong cả hai tiểu vương quốc này không cai trị dân theo ý của Thiên Chúa, họ không bao giờ giữ giao ước của Ngài. Theo gương các vua, dân chúng cũng không trung thành với giao ước, bắt chước các dân chung quanh để thờ các thần của họ. Đối với tiểu vương quốc phía Bắc, ngay từ khi mới lên cầm quyền, vua Gia-róp-am đã cho xây dựng 2 đền thờ tại Đan và Bê-ten, đồng thời cho thờ tượng bê vàng. Chính vì điều này mà năm 721 TCN, Thiên Chúa đã cho nước Ít-ra-en phía Bắc rơi vào tay đế quốc Át-si-ri để phạt tội họ. Thảm hoạ đó của tiểu vương quốc phía Bắc là lời cảnh báo cho dân chúng tiểu vương qu?c Giu-đa ở phía Nam. Nhưng họ đâu có hiểu, họ vẫn bỏ ngoài tai những lời cảnh báo của các ngôn sứ do Chúa gửi đến. Việc thờ phượng thì chuộng hình thức bên ngoài, tưởng rằng lễ vật có thể thay thế cho lòng yêu mến và vâng phục Thiên Chúa. Trong xã hội thì bất công đối với người nghèo, lợi dụng đồng loại một cách vô nhân đạo. Họ cũng chạy theo tà giáo, sùng bái ngẫu tượng. Cuối cùng điều phải đến đã đến, thành Giê-ru-sa-lem bị thất thủ năm 587 TCN và vua quan cùng với dân chúng bị bắt đi lưu đày bên Ba-bi-lon. 
b. Ý nghĩa
Khi quốc gia bị chia rẽ sau cái chết của Sa-lô-môn, vương quốc Giu-đa ở phía Nam vẫn vững mạnh hơn, không bị xáo trộn như vương quốc Ít-ra-en ở phía Bắc. Lý do là vì, dựa vào lời ngôn sứ Na-than, người dân phía Nam luôn nghĩ rằng quyền lên ngôi vua chỉ thuộc về một gia đình là gia đình Đavít mà thôi. Thiên Chúa đã khẳng định rằng vương quốc nhà ?a-vít sẽ có ngày trở thành rộng khắp và tồn tại mãi. Người dân Giu-đa hãnh diện và ỷ lại vào điều đó. Vì thế họ không nghe lời các ngôn sứ mời gọi hoán cải và 135 năm sau, Ít-ra-en sụp đổ, vương quốc Giu-đa cũng bị hủy diệt, vua quan và dân chúng đều bị lưu đày.
+ Các ngôn sứ phía Nam: Dân Giu-đa cũng dần dần mắc phải những tội ác của Ít-ra-en: việc thờ phượng thì chuộng hình thức bên ngoài, xã hội thì đầy dẫy những bất công. Trong bối cảnh ấy, nhiều ngôn sứ đã xuất hiện, đấu tranh kịch liệt để giữ cho Giu-đa xứng đáng là người bạn trăm năm trinh trắng của Thiên Chúa. Đáng kể là các ngôn sứ Mi-kha và I-sai-a. Hai vị này có phần thành công nhờ sự sáng suốt của vua Ê-dê-ki-a, nhưng ngay trong thời cải cách của vua này, tội lỗi Giu-đa vẫn còn đầy dẫy. Một thế kỷ sau có ngôn sứ Giê-rê-mi-a. Vua Giô-si-a tìm được sách luật và hưởng ứng lời Giê-rê-mi-a để thực hiện cuộc cải cách, nhưng triều đại của ông chỉ được 13 năm. Các vua kế tiếp lại sa vào đường tà giáo.
Năm 587, sau một cuộc bao vây ác liệt khoảng một năm rưỡi, lực lượng của đế quốc Ba-by-lon đã tiến vào Giê-ru-sa-lem, phá hủy cả thành lẫn đền thờ. Vua quan và dân chúng bị lưu đày sang Ba-by-lon.
+ Trong cảnh lưu đày: Trong số người Giu-đa bị phát lưu lên đến khoảng 50.000 người. Họ phải đi bộ 700 dặm đến Ba-by-lon. Họ bước đi trong chán chường, vô vọng, đau khổ vì cuộc sống thiếu thốn trong những trại tập trung. Điều thử thách lớn nhất cho họ là thử thách về đức tin: ThiênChúa đã ở đâu khi thành Giê-ru-sa-lem bị hủy diệt, và giờ đây Ngài ở nơi nào? Phải chăng tất cả chỉ là ảo vọng? Đền thờ, khám giao ước, hàng tư tế có ích gì?
Nhờ ngôn sứ Ê-dê-ki-en đi theo dạy dỗ, an ủi, dân Chúa lấy lại niềm hy vọng. Họ hiểu ra tội lỗi của họ và hiểu rằng điều Thiên Chúa chờ họ là tấm lòng. Ngài sửa phạt họ, vì Ngài muốn họ quay trở về, sống trung thành với Giao ước. Ngài thanh tẩy họ để họ xứng đáng là dân thánh của Ngài. Họ chỉ còn sót lại một nhóm nhỏ, nhưng Thiên Chúa chí thánh là Đấng hằng sống, Ngài không bỏ họ trong cõi chết. Ngài sẽ đổ Thần Khí ban sự sống của Ngài xuống trên họ. Họ sẽ được phục sinh và đổi mới. Thiên Chúa sẽ ghi khắc giao ước mới vào trong tim họ, sẽ thâu họp họ lại thành một dân mới để đem ánh sáng của Ngài đến cho muôn dân.
2. Hồi hương
a. Kirô vua dân ngoại, phóng thích dân Chúa
Na-bu-cô-đô-nô-sô, vua Át-si-ri, chết năm-560. Khoảng 20 năm sau, Ba-bi-lon sụp đổ của quân Ba-Tư và Mê-đê. Ki-rô đại đế, vua Ba-tư và Mê-đê, người sáng lập đế quốc Ba-tư hùng cường, đã vào Ba-bi-lon vào năm 539 TCN. Chỉ một năm sau, ông hạ chỉ cho những người lưu đày được hồi hương. Quả thật, ông là một vị vua đại lượng, biết tôn trọng những phong tục và những thần của các nước ông đã chinh phục. Ngôn sứ I-sai-a nói đến Ki-rô một cách kính cẩn đặc biệt, coi ông như một mục tử của Thiên Chúa (Is 44,28) và là kẻ được xức dầu của Thiên Chúa(Is45,1).
Năm 537 TCN, một năm sau khi sắc chỉ hồi hương được ký, người DoThái bắt đầu trở về Giu-đa. Nhiều người ở lại Ba-bi-lon vì  đã có nhà cửa đầy đủ tiện nghi và đã làm ăn phát đạt, tuy nhiên họ cũng bỏ tiền của ra để giúp đỡ những người hồi hương. Nhóm người Do Thái đầu tiên lên đường hồi hương dưới sự lãnh đạo của thượng tế Giô-sua (thuộc dòng dõi A-ha-ron) và hai người thuộc hoàng tộc là Sát-sa-ba-sa và Giô-rô-ba-ben (ông này thuộc dòng dõi Đa-vit). Hai ông là những người đầu tiên cai trị nước Giu-đa mới được phục hồi, nhưng chỉ là những viên chức được vua Ba-tư bổ nhiệm và hoàn toàn thuộc quyền vua Ba-tư. Cuộc sống của những người mới hồi hương gặp khó khăn về mọi mặt. Đây đúng là nhóm người nhỏ bé, là phần “dư tồn”, “số còn sống sốt” mà trước đây các ngôn sứ đã loan báo. Họ tụ tập lại trên đỉnh núi Thánh Sion mà dâng lễ hy sinh cho Thiên Chúa. Sau đó là công việc tái thiết đền thờ và thành phố.
b –Tái thiết đền thờ
Lúc đầu người ta phấn khởi, nhưng càng ngày càng ra uể oải, chần chừ, phần vì những dân xâm chiếm đất đai gây khó khăn, phần vì đám dân Samari miền bắc gây cản trở. Hai ngôn sứ Hác-gai và Da-ca-ri-a xuất hiện và hăng hái cổ võ lòng nhiệt thành của dân chúng. Sau cùng đền thờ đã được tái thiết y một kích thước theo hoạ đồ của đền thờ Sa-lô-môn và được cung hiến vào năm 515 TCN (tức là 17 năm sau khi hồi hương). Đây là đền thờ thứ hai, cũng gọi là đền thờ của Giô-rô-ba-ben. còn tường thành, sau khi được phép của vua Ba-tư, đã được Nê-hê-mi-a (445) đôn đốc tái thiết trong vòng hai tháng.
c- Phục hồi về mặt thiêng liêng
Nêhêmya có mặt ở Giêrusalem một thời gian thì Ét-ra, vị tư tế kí lục cũng đến đó. Ông này góp phần vào sự phục hồi Giuđa về mặt thiêng liêng. Điều này được mô tả trong sach Neh 8-9. Chương 8 thuật lại việc Ét-ra tập họp những người Giu-đa tại phía cổng nam đền thờ và độc cho họ nghe bản luật Mô-sê, cũng gọi là sách ngũ kinh, tức năm quyền đầu của bộ kinh thánh. Khi đọc, ông thường dừng lại ở nhiều đoạn để các Lêvi giải thích cho dân hiểu ý nghĩa những đoạn đã nghe. Chương 9 mô tả một cuộc hội họp long trọng khác, trong đó Ét-ra hướng dẫn dân chhúng cử hành lễ nghi nhắc lại giao ước cách trọng thể, ông thuật lại việc Thiên Chúa dựng lên thế giới đã kêu gọi Áp-ra-ham làm tổ phụ dân Người, đã cứu Ít-ra-en thoát cảnh nô lệ Ai cập, đã làm cho dân Ít-ra-en trở thành một gia đình ton giáo của Người trên núi Sinai, rồi sau đó đã dẫn dân Người vào đất hứa. Ét-ra cũng nói đến tội của Ít-ra-en thường xuyên bất tín bất trung  với Thiên Chúa. Nghe lời Ét-ra giảng dạy, dân chúng đã công khai thú tội và khẳng định ý muốn của họ là tự nguyện bước vào giao ước mới với Thiên Chúa.
C. KẾT THÚC
1. Bài học áp dụng
Trong xã hội hiện nay, với thực trạng vật giá leo thang, không ít người trong chúng ta rơi vào cảnh khó khăn túng thiếu. Đôi khi vì đó mà chúng ta đâm ra thất vọng, chán chường và sống cuộc sống bi quan đầy tiếng thở dài. Tuy nhiên, cũng có những người không chịu khuất phục trước những khó khăn đó, họ vùng lên tìm mọi cách để cải thiện đời sống. Có khi sự nỗ lực của họ lại đi trái với luân thường đạo lý. Họ bất chấp mọi luật lệ tôn giáo cũng như xã hội để chạy theo sự quyến rũ của tiền bạc. Họ bán rẻ nhân phẩm, coi thường người khác miễn sao là kiếm được nhiều tiền để trang trải cho những khó khăn đang xảy ra trước mắt. Đứng trước tình trạng đó, người Ki-tô hữu trẻ được mời gọi nhìn vào cuộc sống đầy gian nan của dân Do-thái trong cảnh lưu đày, sống chung với những khó khăn và trở nên như những ngôn sứ nhằm cảnh tỉnh mọi người, kêu gọi họ sám hối trở về với Chúa thông qua cuộc sống lạc quan và thánh thiện của mình. Biết nỗ lực để tạo ra của cải vật chất là rất tốt, vì đó là điều Chúa muốn và mời gọi để ta cộng tác vào công trình sáng tạo; nhưng cách thức để làm ra của cải như thế nào cho phù hợp với luân lý Ki-tô giáo lại là vấn đề cần chúng ta can đảm chọn lựa. Đó cũng chính là một cách chuẩn bị để tâm hồn chúng ta trở nên như những con đường cho Chúa đến với những người chưa nhận biết Ngài.
2. Gợi ý cầu nguyện
Lạy Thiên Chúa là Cha chúng con, chúng con cảm tạ Chúa đã mời gọi chúng con cộng tác vào chương trình cứu độ của Chúa. Chúng con cảm tạ Chúa đã rèn luyện chúng con qua những khó khăn của cuộc đời, để nhờ đó biến đổi chúng con trở nên hoàn thiện, như xưa Chúa đã rèn luyện và biến đổi dân Chúa trong cảnh lưu đày. Xin cho chúng con biết luôn ý thức về những hồng ân đó mà ra sức sửa đổi đời sống mình, xứng đáng trở nên con đường thẳng để Chúa đi qua chúng con mà đến với thế gian. Amen.

 BAN GIÁO LÝ (Gp. Thái Bình)
Tài liệu Giáo lý Thánh Kinh do BGL Gp. Thái Bình sưu tầm và biên soạn (2008)