18/04/2018
449
GIÁO LÝ KINH THÁNH
BÀI 2
KHÁI QUÁT VỀ THÁNH KINH CỰU ƯỚC
 
A. DẪN NHẬP
 
1. Thánh hoá đầu giờ
 
          Lạy Chúa Giê-su, sau khi về trời, Chúa đã xin cùng Chúa Cha sai Chúa Thánh Thần đến để hướng dẫn Hội Thánh tiếp tục sứ vụ đem ơn cứu độ đến cho mọi người. Giờ đây, chúng con cũng nài xin Chúa ban Thánh Thần xuống trên chúng con để chúng con luôn biết học hiểu và suy gẫm Lời Chúa, để từ đó chúng con lại tiếp tục sứ mạng loan báo Lời Chúa đến cho mọi người. Amen.
 
2. Câu chuyện minh hoạ “Lấy Thánh Kinh ra khỏi văn cảnh”.
 
          Một Ki-tô hữu chỉ biết có Thánh Kinh, gặp những vấn đề nghiêm trọng trong việc kinh doanh vì khủng hoảng kinh tế. Công việc kinh doanh của ông sắp bị phá sản.
 
          Trong lúc bối rối, ông muốn mở Thánh Kinh cắt ngang để tìm điều Thiên Chúa muốn ông phải làm. Vì thế, ông lấy cuốn Thánh Kinh dày cộm, mở đại ra trong lúc mắt ông nhắm lại, ngón tay trỏ di chuyển trên trang giấy. Khi ông dừng lại, ngón tay chỉ vào sách Mát thêu 27, 5, ông đọc: “Giu-đa lui ra và đi thắt cổ”. Ông rất đau buồn và lẩm bẩm: “Có phải đây là điều Thiên Chúa muốn tôi làm bây giờ?”. Vì thế, ông thử lại lần nữa theo cùng một cách thức. Mắt nhắm lại, ông mở Thánh Kinh và di chuyển ngón trỏ trên trang giấy. Mở mắt ra, ông thấy ngón tay chỉ vào sách Luca 10, 37, ông đọc: “Ông hãy đi và làm như vậy”. Con người khốn khổ đó càng thêm đau buồn.
 
          Ông ta nói: “Mình hãy thử lại lần thứ ba để xem lần này có xác nhận hai lần trước không?”. Ông mở sách và gấp sách, rồi mở lại, cùng một cách thức. Khi mở mắt ra, ông thấy ngón tay chỉ vào sách Gio-an 13, 27. Ông ta ngã quị xuống đất bởi cơn đau tim, vì câu Thánh Kinh ấy nói: “Anh làm gì thì làm mau đi”.
 
3. Dẫn vào bài
 
          Thật là nguy hiểm khi giải thích những đoạn Thánh Kinh ra ngoài văn cảnh. Biết Thánh Kinh nói gì chưa đủ, nhưng điều quan trọng hơn là phải biết ý nghĩa của nó. Cựu Ước vốn là một phần của Thánh Kinh, nhưng đối với nhiều Ki-tô hữu, Cựu Ước có vẻ xa lạ. Nếu có dịp đọc, chúng ta sẽ khám phá ra cả một kho tàng ẩn dấu trong đó. Đọc Cựu Ước không chỉ giúp chúng ta hiểu Tân Ước, nhưng còn giúp chúng ta hiểu rõ chương trình tình thương cứu độ của Thiên Chúa đối với loài người. Nội dung của bài này sẽ cho chúng ta cách nhìn tổng quát về các sách Cựu Ước.
 
4. Đọc Thánh Kinh  (Lc 24, 13 - 27).
 
          Lời Chúa trong Tin Mừng theo thánh Lu-ca.
          Cũng ngày hôm ấy, có hai người trong nhóm môn đệ đi đến một làng kia tên là Em-mau, cách Giê-ru-sa-lem chừng mười một cây số. Họ trò chuyện với nhau về tất cả những sự việc mới xảy ra. Đang lúc họ trò chuyện và bàn tán, thì chính Đức Giê-su tiến đến gần và cùng đi với họ. Nhưng mắt họ còn bị ngăn cản, không nhận ra Người. Người hỏi họ: "Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau về chuyện gì vậy ?" Họ dừng lại, vẻ mặt buồn rầu. Một trong hai người tên là Cơ-lê-ô-pát trả lời: "Chắc ông là người duy nhất trú ngụ tại Giê-ru-sa-lem mà không hay biết những chuyện đã xảy ra trong thành mấy bữa nay." Đức Giê-su hỏi: "Chuyện gì vậy ?" Họ thưa: "Chuyện ông Giê-su Na-da-rét. Người là một ngôn sứ đầy uy thế trong việc làm cũng như lời nói trước mặt Thiên Chúa và toàn dân. Thế mà các thượng tế và thủ lãnh của chúng ta đã nộp Người để Người bị án tử hình, và đã đóng đinh Người vào thập giá. Phần chúng tôi, trước đây vẫn hy vọng rằng chính Người là Đấng sẽ cứu chuộc Ít-ra-en. Hơn nữa, những việc ấy xảy ra đến nay là ngày thứ ba rồi. Thật ra, cũng có mấy người đàn bà trong nhóm chúng tôi đã làm chúng tôi kinh ngạc. Các bà ấy ra mộ hồi sáng sớm, không thấy xác Người đâu cả, về còn nói là đã thấy thiên thần hiện ra bảo rằng Người vẫn sống. Vài người trong nhóm chúng tôi đã ra mộ, và thấy sự việc y như các bà ấy nói; còn chính Người thì họ không thấy." Bấy giờ Đức Giê-su nói với hai ông rằng: "Các anh chẳng hiểu gì cả ! Lòng trí các anh thật là chậm tin vào lời các ngôn sứ ! Nào Đấng Ki-tô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao ? Rồi bắt đầu từ ông Mô-sê và tất cả các ngôn sứ, Người giải thích cho hai ông những gì liên quan đến Người trong tất cả Sách Thánh.
          Đó là Lời Chúa.
 
B. NỘI DUNG
 
1. CỰU ƯỚC LÀ GÌ ?
 
          Theo thuật ngữ Hán tự, Cựu là cũ, xưa; Ước là hẹn. Cựu Ước là giao ước cũ.
 
          Theo nghĩa của bài, Cựu Ước là một bộ sách gồm có 46 cuốn (qui điển của Giáo Hội Công Giáo), thuộc nhiều thể văn khác nhau như: sử ký, truyền kỳ, luật pháp, giảng thuyết, khuyên răn, truyện để dạy đời, thi ca… “Những cuốn này do nhiều tác giả Thánh Kinh sưu tầm và viết lên, ấn bản vào nhiều thời khác nhau. Những phần cổ nhất được chép thành văn vào khoảng 1000 năm trước khi Chúa Giê-su sinh ra, còn những phần mới nhất chừng gần 100 năm trước thời Người”[1].
 
Nội dung của Thánh Kinh Cựu Ước nói về công trình sáng tạo của Thiên Chúa, sự sa ngã của loài thụ tạo, lời hứa cứu độ cho toàn thể thụ tạo nói chung và loài người nói riêng, qua việc Thiên Chúa chọn lựa Áp-ra-ham và dân Do-thái như một dụng cụ hay phương tiện để dọn đường, tiên báo, thực hiện và hoàn thành công trình cứu độ của Người cho toàn thể thụ tạo trong Đức Ki-tô. Lịch sử dân này trải qua nhiều thời đại khác nhau trong một thời gian khá dài: khoảng từ năm 1900 TCN đến hết năm 1 TCN.
 
2. Các sách Cựu Ước
 
Cựu Ước gồm 46 cuốn được phân chia như sau:
 
a. Ngũ Thư ( sách Luật Mô-sê)
 
          - Khái niệm: Là năm cuốn đầu tiên của Thánh Kinh Cựu Ước bao gồm: Sáng thế, Xuất hành, Lê-vi, Dân số và Đệ nhị luật; nói về công trình sáng tạo của Thiên Chúa, sự sa ngã của toàn thể loài thụ tạo và lời hứa cứu độ của Thiên Chúa cho mọi người qua việc Ngài chọn ông Áp-ra-ham và thành lập dân Ít-ra-en trong sa mạc với Giao ước và lề luật.
 
          - Sứ điệp: là bộ luật, Ngũ thư đã đặt nền cho Do-thái giáo và còn minh chứng đạo Cựu Ước là đạo mặc khải: Thiên Chúa đã tỏ cho những người sống trong những thời đại và hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Người đã can thiệp cách đặc biệt vào sự tiến triển của loài người.
 
          Lời hứa, giao ước, luật là những tư tưởng chính gắn kết với nhau xuyên suốt Ngũ Thư. Bài học luân lý và đạo đức đối với chúng ta ngày nay vẫn còn y nguyên, bởi vì Chúa Giê-su đã kiện toàn luật Cựu Ước (x. Mt 5,17), nên đức tin Ki-tô giáo đòi chúng ta có một tâm tình đối với các thực tại của luật mới là Tin Mừng tương tự như tâm tình của dân Ít-ra-en xưa đối với Luật. Hơn nữa, đối với mỗi Ki-tô hữu, lịch sử mà Ngũ Thư kể lại còn có ý nghĩa của cuộc hành trình đi tới Thiên Chúa, trong đó mỗi sách tiêu biểu cho một chặng đường, và mỗi sách đều chứa đựng một bài học riêng về thái độ của con người đối với Thiên Chúa.
 
          b. Các sách Lịch sử
 
          - Khái niệm: Là những cuốn sách nói chung về ba giai đoạn lịch sử của dân Ít-ra-en: Thời kỳ trong đất hứa; Thời kỳ lưu đày và hậu lưu đày; Thời kỳ cuối hậu lưu đày, bao gồm có 16 cuốn (Giô-suê, Thủ lãnh, 1&2 Sa-mu-en, 1&2 Các Vua, Rút, 1&2 Sử biên niên, Ét-ra, Ét-te, 1&2 Ma-ca-bê, Tô-bi-a, Giu-đi-tha và Nơ-khê-mi-a).
 
          - Sứ điệp: các sách lịch sử, với dạng thức cuối cùng, là công trình biên soạn của những người sùng đạo đã thấm nhiễm những tư tưởng của Đệ nhị luật. Họ suy tư về quá khứ dân tộc họ và từ đó rút ra một bài học về tôn giáo. Nhưng các sách ấy cũng lưu truyền cho chúng ta những khẩu truyền, bút tích đã có từ thời tiến vào Đất Hứa, tường thuật các sự kiện nổi bật trong lịch sử Ít-ra-en. Nếu lịch sử này được trình bày như một “lịch sử thánh”, thì nó cũng giảm thiểu sức hấp dẫn đối với các sử gia; nhưng trái lại, nó có giá trị đối với các tín hữu. Bởi vì thông qua lịch sử ấy, chúng ta không những nhận biết bàn tay Thiên Chúa trong mọi biến cố thế trần, nhưng còn nhìn thấy sự ân cần và tình thương bao la của Thiên Chúa đối với Dân Người tuyển chọn, sự phát triển tiệm tiến chuẩn bị cho dân Ít-ra-en mới là cộng đồng những kẻ tin.
 
          c. Các sách Giáo huấn
 
          - Khái niệm: Là những cuốn sách chứa đựng một kho tàng phong phú, thâm sâu về sự khôn ngoan và lối suy tư của người Do-thái về tôn giáo, nhân sinh quan, vũ trụ quan, cuộc sống và đức tin của họ, bao gồm 7 cuốn: Gióp, Thánh vịnh, Châm ngôn, Giảng viên, Diễm ca, Khôn ngoan, Huấn ca.
 
          - Sứ điệp: các sách giáo huấn trong Thánh Kinh mang tính chất nhân bản sâu xa. Một đàng nó dựa trên những lý luận của nền luân lý tự nhiên để tìm ra những mối tương quan cũng như những nghĩa vụ của mọi người nói chung; nhưng đàng khác nó còn liên hệ với Thiên Chúa và Luật của Người mang tính siêu việt hơn.
 
          Phổ quát chứ không hạn hẹp vào những tham vọng quốc gia của Ít-ra-en: suy nghĩ về con người bất phân chủng tộc trong những mối liên lạc tín ngưỡng với Thiên Chúa, Đấng tạo thành và an bài mọi sự.
 
          Đề cao luân thường đạo lý. Tán dương các nhân đức, luật trung dung, lấy lòng kính sợ Thiên Chúa làm nền tảng đời sống khôn ngoan. Các nghĩa vụ gia đình và xã hội đều bắt nguồn từ nguyên tắc đạo đức này.
 
          Lấy độc thần giáo làm căn bản. Tất cả tín ngưỡng và luân lý của Cựu Ước đều xoay quanh ý niệm một Đấng tối cao, nhân hậu mà công thẳng, đồng thời tỏ ra rất quan tâm đến con người.
 
          Những tư tưởng vừa kể làm nổi bật các tác phẩm giáo huấn của sách thánh về phương diện luân lý, phù hợp với truyền thống đạo đức chung của Ít-ra-en.
 
          d. Các sách Tiên tri
 
          - Khái niệm: Là những sách được sưu tầm và ấn bản theo danh tính của từng ngôn sứ qua các thời đại khác nhau với các sứ điệp khác nhau của chính Thiên Chúa cho Ít-ra-en và cho toàn thể thế giới, bao gồm 18 cuốn: I-sa-i-a, Giê-rê-mi-a, Ai ca, Ba-rúc, Ê-dê-ki-en, Đa-ni-en, Hô-sê, Giô-en, A-mốt, Ô-va-đi-a, Giô-na, Mi-kha, Na-khum, Kha-ba-cúc, Xô-phô-ni-a, Khác-gai, Da-ca-ri-a và Ma-la-khi.
 
          - Sứ điệp: vì là những con người của tôn giáo, các ngôn sứ nhìn mọi sự dưới cái nhìn tôn giáo, kể cả những biến cố chính trị, những sự kiện văn hóa đời thường. Các ngôn sứ đã đóng một vai trò quan trọng trong việc mở mang tôn giáo ở Ít-ra-en, không những họ đã giữ gìn và hướng dẫn dân trong đường lối đạo đức của Gia-vê, mà họ còn là những bộ phận chính cho sự phát triển tiệm tiến của mặc khải trong công việc đa dụng ấy, mỗi vị đã có một vai trò riêng và đã góp phần xây dựng cho tòa lâu đài đạo lý. Điểm chung tư tưởng của họ là: Độc thần, một nền luân lý, và lòng mong chờ Đấng Mê-si-a.    
                                                                                                       
3. Thể văn Cựu Ước
 
          L?i Chúa không được thông truyền cho chúng ta trực tiếp, nhưng nó thường mặc một hình thức của nhân loại. Vì Thiên Chúa muốn dùng con người để thông truyền sứ điệp của Ngài. Chúng ta cần phải hiểu biết cách suy tư và diễn tả của những vị đó. Bộ Thánh Kinh hình thành trong suốt 12 thế kỷ, nên các tác giả sách thánh chịu ảnh hưởng môi trường sống của các ngài như văn hóa Su-mer Ak-kad, Ca-na-an, Ai-cập và Hy-lạp nữa. Hơn nữa, Ít-ra-en còn có những đặc điểm riêng của Giao ước Mô-sê, là người lập ra mối hiệp thông duy nhất với Thiên Chúa cho dân. Các tác giả sách thánh dùng những kiểu cách để diễn tả sứ điệp mà các ngài truyền bá. Ta gọi những kiểu diễn tả là văn loại Thánh Kinh. Cựu Ước bao gồm rất nhiều thể văn như: lịch sử, tích truyện, ngôn sứ, ...
 
          - Loại văn Lịch sử: Loại văn này là mảnh đất vững vàng và phì nhiêu là cơ sở cho những loại văn khác. Nhưng nên nhớ, lịch sử Thánh Kinh lúc nào cũng là phương tiện chứ không phải là mục đích. Các sứ giả tân thời cố làm sao cho trình thuật của mình phù hợp với biến cố xảy ra, nhưng các tác giả Thánh Kinh chỉ dùng các sự kiện mà các ngài ghi lại làm điểm tựa để trình bày đạo lý. Các vị không có ý làm cho trình thuật của mình phù hợp với toàn bộ biến cố, nhưng trình bày theo một phương diện đặc biệt của biến cố hầu đạt đến mục đích mà các vị theo đuổi. Do đó, đôi khi có những chỗ giản dị hóa, bỏ qua, nhấn mạnh. Hơn nữa, tác giả coi lịch sử là sự hiện thực chương trình cứu độ của Gia-vê đối với Ít-ra-en, nên phép lạ là một phần trong lịch sử ấy. Sau hết, tác giả sách thánh dùng nhiều hình thức trong văn loại lịch sử đương thời đang sử dụng với nhiều hình thức khác nhau như: Lịch sử có tính chất tài liệu, lịch sử hùng ca, lịch sử dân gian, lịch sử thời khởi nguyên, lịch sử khuyến thiện và trình thuật giáo dục.
 
          - Loại văn tự tình: thể văn này được sử dụng nhiều trong Thánh Vịnh, đồng thời trong các bài thương ca, các phần vịnh trong tác phẩm lịch sử và tiên tri, sách Diệu Ca. Ngoài ra, còn xuất hiện trong các bài ca khải hoàn của My-ri-am, Đơ-bô-ra (x. Xh 15; Tl 5), thậm chí cả những bài ca yến ẩm (x. Is 22,13; 56,12). Thể loại này thường là thi ca. Luật cơ bản nhất trong thi văn Sê-mít là song đối: câu văn có hai vế bổ túc cho nhau dưới hình thức tương đồng (x. Gv 2,2), hay trái nghịch (x. Kn 10,1). Câu thơ có vần điệu theo luật bằng trắc. Hai ba câu thơ hợp thành một tiết. Thơ trữ tình dồi dào về hình ảnh và so sánh sinh động: quan niệm nhân hình về Thiên Chúa (x. Xh 15,8); nhân hóa các vật vô tri (x. Tv 7,8).
 
          - Loại văn Giáo dục: Tất cả các sách Khôn Ngoan được trình bày dưới thể văn này. Đúng với tên của nó, loại văn nhằm trình bày lời khuyên dạy. Các tác phẩm loại này thường viết theo văn vần và có nhiều dạng khác nhau: Châm Ngôn, Ẩn Ngữ, Dụ Ngôn, Ngụ ngôn. Những tác giả có thể triển khai trong trình thuật: Tô-bi-a, Giu-se.
 
          - Loại văn Pháp chế: Thể văn này có quan hệ với Giao ước vì giao ước bao hàm tuân giữ Lề Luật. Đây là hành văn của ngũ thư (đặc biệt là sách Đệ Nhị Luật và “luật Thánh đức” (x. Lv 17-26). Về hình thức văn thể này có dạng câu điều kiện: “Nếu kẻ nào đả thương chết người, tất cả phải chết” (Xh 21,12) hay sử dụng thì tương lai ở dạng thường: “Ngươi sẽ không giết người” (Xh 20,13). Dạng thứ nhất tức là hình thức vấn nạn, một hình thức du nhập từ một khoản luật thông thường của nước ngoài. Dạng thứ hai có một thể văn đặc biệt của truyền thống Đa-vít.
 
          - Loại văn Ngôn sứ: loại văn chương Tây Phương hiện đại không có hình thức văn chương này. Người ta sử dụng khi trình  bày hoạt động ngôn sứ: trong các tác phẩm lịch sử, đặc biệt các tác phẩm ngôn sứ. Loại văn này không tách biệt hoàn toàn nhưng người ta thấy chúng ở dạng pha phôi với các thể văn khác: lịch sử, trữ tình và khôn ngoan. Vì thế có những phần tự thuật, có những chi tiết nói về bối cảnh lịch sử, xã hội và tôn giáo. Đôi khi biểu hiện tâm tình rất mãnh liệt (thí dụ Hô-sê, Giê-rê-mi-a và Ê-dê-ki-en). Ít nhất cũng cầu nguyện (x. Is 44,23). Có những lúc, giáo huấn của Ngôn sứ rất trừu tượng, giống như hành văn của các hiền triết (x. Is 11,1-4).
 
          Yếu tố chủ yếu nhất là sấm ngôn, loại này được trình bày theo dạng mẫu: “Đây là lời Gia-vê phán” và kết thúc là “sấm của Gia-vê” (điển hình Gr 9, 22-23). Loại khác là sấm ngôn khuyên nhủ: đây là loại chú giải sấm ngôn, với hình thức này, ngôn sứ biểu lộ tính khí một cách bộc trực hơn (x. Is 34, 1-5). Sấm ngôn và khuyến dụ thường có các hình ảnh miêu tả phụ họa và các cử chỉ diễn ý.
 
          - Loại văn Khải huyền: loại này gần với thể văn ngôn sứ nhưng nét dị biệt khá rõ ràng. Thể văn này phát khởi thời Ê-dê-ki-en và Gia-ca-ri-a, triển khai trong sách Đa-ni-en và kết thúc với sách Khải Huyền của Gio-an. Loại văn này có đặc điểm: có các giấc mơ, thị kiến, các thiên thần hành động, nói đến các tai họa thiên nhiên, đối chiếu với lịch sử khi phê phán và coi trọng yếu tố cánh chung.
 
C. KẾT THÚC
 
1. Bài học áp dụng
 
          Cựu Ước nói về việc Thiên Chúa chọn dân Ít-ra-en làm dân riêng, dạy dỗ và hướng dẫn họ qua lịch sử để chuẩn bị cho họ đón nhận Tin mừng của Chúa Ki-tô. Khi Chúa Ki-tô đến, Ngài có nói: “Ta đến không phải để bãi bỏ Cựu Ước, nhưng để làm cho Cựu Ước đầy đủ ý nghĩa”(Mt 5, 17). Mặc dù có một số điều chưa hoàn toàn, Cựu Ước vẫn còn giá trị, vì Thiên Chúa phán trong Cựu Ước vẫn là Thiên Chúa phán trong Tân Ước, và vì Cựu Ước vẫn có thể dạy chúng ta là dân mới của Thiên Chúa, biết đón nhận Tin mừng Chúa Ki-tô và sống với Ngài.
 
Chính vì những lý do đó, Hội Thánh luôn trân trọng các sách Cựu Ước và vẫn đọc Cựu Ước trong phụng vụ cho giáo dân nghe. Bài đọc thứ nhất trong các Chúa nhật và đại lễ thường vẫn được trích từ Cựu Ước. Riêng các Thánh vịnh đã được dùng làm lời cầu nguyện chính thức của Hội Thánh. Vì vậy, khi đọc và nghe Lời Chúa ta cần có tâm tình tôn kính, yêu mến L?i Chúa.
 
2. Gợi ý cầu nguyện
 
          Lạy Chúa, Thánh Kinh chính là lời mặc khải của Chúa, Cựu Ước là hình bóng của Tân Ước, và tất cả đều được kiện toàn nơi Đức Giê-su Ki-tô, vì Chính Đức Giê-su Ki-tô là Lời và là mạc khải tròn đầy của Thiên Chúa. Xin cho chúng con luôn biết siêng năng học hỏi và gẫm suy Lời Chúa, đặc biệt qua lời giáo huấn của Giáo Hội và Lời Chúa trong Thánh Lễ mỗi ngày. Xin cho chúng con luôn cảm nghiệm được tình yêu thương của Chúa và sẵn sàng ra đi làm chứng và đem Tin Mừng của Chúa cho trần gian  như Lời Chúa dạy: “Anh em hãy ra đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo”
(x. Mc16,15). Amen.
 
BẠN CÓ BIẾT ?
 
CÁCH TRƯNG DẪN KINH THÁNH
 
Khi chưng dẫn Kinh Thánh, ta không nêu số trang nhưng nêu số chương (cũng gọi là đoạn) và số câu: Ví dụ, trưng dẫn sách Sa-mu-en quyển 1:
1 Sm 2: chương 2
1 Sm 2-3: chương 2 đến hết chương 3
1 Sm 2, 18     : chương 2 câu 18
1 Sm 2, 18-21: chương 2 câu 18 đến hết câu 21
1 Sm 2, 18. 26: chương 2 câu 18 và câu 26
1 Sm 2, 18-3, 19       : chương 2 câu 18 đến chương 3 câu 19
1 Sm 2, 18; 3,19       : chương 2 câu 18 và chương 3 câu 19
NGÔN SỨ
- Ngôn: Lời nói
- Sứ: Người được sai đến.
( Ngôn sứ: Người được Thiên Chúa sai đến để nói Lời của Ngài.
 
 BAN GIÁO LÝ (Gp. Thái Bình)
Tài liệu Giáo lý Thánh Kinh do BGL Gp. Thái Bình sưu tầm và biên soạn (2008)