23/04/2018
407
GIÁO LÝ KINH THÁNH

BÀI 3
THIÊN CHÚA SÁNG TẠO VŨ TRỤ VÀ CON NGƯỜI
 
A- DẪN NHẬP
 
1.      Thánh hoá đầu giờ
 
(GLV tùy nghi có thể hát một bài hoặc đọc một kinh hay một lời nguyện)
          Lạy Chúa, xin thương đổ tràn xuống tâm hồn con Chúa Thánh Thần. Xin Chúa Thánh Thần liên kết con chặt chẽ với Chúa, để con có đủ sức chu toàn sứ mạng Chúa trao phó cho. Amen.
 
2.      Câu chuyện minh hoạ “Đổ vỡ”
 
          Chuyện kể rằng, có một cậu trai sinh trưởng trong một gia đình Công Giáo nề nếp và đạo hạnh. Ngay từ nhỏ, cậu đã được cha dạy cho biết các đức tính nhân bản cần có của một con người; được mẹ dạy cho biết lòng kính sợ Thiên Chúa; được các giáo lý viên dạy cho biết những vấn đề căn bản của đạo lý Ki-tô giáo. Nhưng khi lớn lên, do tiếp xúc với các học thuyết khoa học, cậu đâm ra nghi ngờ về những điều mình tin trong đạo lý Công Giáo. Cậu còn tranh luận với bố mẹ cậu về những vấn đề của Đức tin rằng: Vũ trụ và con người là sản phẩm của quá trình tiến hoá của tự nhiên, vì khoa học đã chứng minh như vậy chứ không phải do Thiên Chúa sáng tạo. Phản ứng lại lý luận của cậu, bố cậu đã nóng giận đuổi cậu ra khỏi nhà. Nhờ sự giới thiệu của một người bạn, cậu xin được việc và vào làm phu hồ cho một tổ thợ xây đang thi công ở một nhà thờ thuộc một giáo xứ ở thành phố.
 
          Một hôm, trong lúc giải lao, cậu được tiếp chuyện với cha xứ. Sẵn có những thắc mắc về đức tin, cậu đem ra thỉnh giáo với vị cha xứ đó. Bằng tình thương yêu, bao dung và sự cởi mở của mình, vị linh mục già đã lần lượt giải thích cho cậu hiểu về nguyên nhân cùng đích của vũ trụ và con người. Kể từ đó, những lúc rảnh rỗi cậu luôn tìm dịp đến với cha để được thỏa mãn những thắc mắc của mình. Sau nhiều lần trao đổi và học hỏi, cuối cùng cậu đã trở về với Đức tin của mình và hơn nữa, trở thành một chủng sinh để tiến tới thiên chức linh mục.
 
3.      Dẫn vào bài
 
          Cũng vậy, nhiều khi trong môi trường của nếp sống văn minh ưa những bằng chứng xác thực, đức tin của chúng ta đôi khi bị chao đảo. Hầu hết những người trong số đó, họ đều hiểu Thánh Kinh theo nghĩa đen. Tức là chỉ căn cứ trên những trình thuật của Thánh Kinh, mà không tìm hiểu xem ý tác giả Thánh Kinh muốn chuyển tải ý nghĩa gì. Đây chính là nội dung mà hôm nay chúng ta cùng nhau tìm hiểu qua tường thuật của sách Sáng thế: Thiên Chúa sáng tạo nên vũ trụ và con người.  
 
4. Đọc Thánh Kinh (St 1-2, 4a)
 
          Lời Chúa trong Sách Sáng Thế     
          Lúc khởi đầu, Thiên Chúa sáng tạo trời đất. Đất còn trống rỗng, chưa có hình dạng, bóng tối bao trùm vực thẳm, và thần khí Thiên Chúa bay lượn trên mặt nước. Thiên Chúa phán: "Phải có ánh sáng." Liền có ánh sáng. Thiên Chúa thấy rằng ánh sáng tốt đẹp. Thiên Chúa phân rẽ ánh sáng và bóng tối. Thiên Chúa gọi ánh sáng là "ngày", bóng tối là "đêm". Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ nhất. Thiên Chúa phán: "Phải có một cái vòm ở giữa khối nước, để phân rẽ nước với nước." Thiên Chúa làm ra cái vòm đó và phân rẽ nước phía dưới vòm với nước phía trên. Liền có như vậy. Thiên Chúa gọi vòm đó là "trời". Qua một buổi chiều và một buổi sáng : đó là ngày thứ hai. Thiên Chúa phán: "Nước phía dưới trời phải tụ lại một nơi, để chỗ cạn lộ ra." Liền có như vậy. Thiên Chúa gọi chỗ cạn là "đất", khối nước tụ lại là "biển". Thiên Chúa thấy thế là tốt đẹp. Thiên Chúa phán: "Đất phải sinh thảo mộc xanh tươi, cỏ mang hạt giống, và cây trên mặt đất có trái, ra trái tuỳ theo loại, trong có hạt giống." Liền có như vậy. Đất trổ sinh thảo mộc, cỏ mang hạt giống tuỳ theo loại, và cây ra trái, trong trái có hạt giống tuỳ theo loại. Thiên Chúa thấy thế là tốt đẹp. Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ ba. Thiên Chúa phán: "Phải có những vầng sáng trên vòm trời, để phân rẽ ngày với đêm, để làm dấu chỉ xác định các đại lễ, ngày và năm. Đó sẽ là những vầng sáng trên vòm trời để chiếu soi mặt đất." Liền có như vậy. Thiên Chúa làm ra hai vầng sáng lớn: vầng sáng lớn hơn để điều khiển ngày, vầng sáng nhỏ hơn để điều khiển đêm; Người cũng làm ra các ngôi sao. Thiên Chúa đặt các vầng sáng trên vòm trời để chiếu soi mặt đất, để điều khiển ngày và đêm, và để phân rẽ ánh sáng với bóng tối. Thiên Chúa thấy thế là tốt đẹp. Qua một buổi chiều và một buổi sáng : đó là ngày thứ tư. Thiên Chúa phán: "Nước phải sinh ra đầy dẫy những sinh vật lúc nhúc, và loài chim phải bay lượn trên mặt đất, dưới vòm trời." Thiên Chúa sáng tạo các thuỷ quái khổng lồ, cùng mọi sinh vật vẫy vùng lúc nhúc dưới nước tuỳ theo loại, và mọi giống chim bay tuỳ theo loại. Thiên Chúa thấy thế là tốt đẹp. Thiên Chúa chúc phúc cho chúng rằng: "Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy biển ; và chim phải sinh sản cho nhiều trên mặt đất." Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ năm. Thiên Chúa phán: "Đất phải sinh ra các sinh vật tuỳ theo loại: gia súc, loài bò sát và dã thú tuỳ theo loại." Liền có như vậy. Thiên Chúa làm ra dã thú tuỳ theo loại, gia súc tuỳ theo loại và loài bò sát dưới đất tuỳ theo loại. Thiên Chúa thấy thế là tốt đẹp. Thiên Chúa phán: "Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta, để con người làm bá chủ cá biển, chim trời, gia súc, dã thú, tất cả mặt đất và mọi giống vật bò dưới đất." Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ. Thiên Chúa ban phúc lành cho họ, và Thiên Chúa phán với họ: "Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất, và thống trị mặt đất. Hãy làm bá chủ cá biển, chim trời, và mọi giống vật bò trên mặt đất." Thiên Chúa phán: "Đây Ta ban cho các ngươi mọi thứ cỏ mang hạt giống trên khắp mặt đất, và mọi thứ cây có trái mang hạt giống, để làm lương thực cho các ngươi. Còn đối với mọi dã thú, chim trời và mọi vật bò dưới đất mà có sinh khí, thì Ta ban cho chúng mọi thứ cỏ xanh tươi để làm lương thực. Liền có như vậy." Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra quả là rất tốt đẹp! Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ sáu.
 
          Thế là trời đất cùng với mọi thành phần đã hoàn tất. Ngày thứ bảy, Thiên Chúa đã hoàn thành công việc Người làm. Khi làm xong mọi công việc của Người, ngày thứ bảy, Thiên Chúa nghỉ ngơi. Thiên Chúa ban phúc lành cho ngày thứ bảy và thánh hoá ngày đó, vì ngày đó Người đã nghỉ, ngưng làm mọi công việc sáng tạo của Người. Đó là gốc tích trời đất khi được sáng tạo.
          Đó là Lời Chúa.
 
B. NỘI DUNG
 
1. THIÊN CHÚA SÁNG TẠO VŨ TRỤ
 
a- Tạo dựng. St 1, 1-2, 4a nói về Thiên Chúa sáng tạo vũ trụ
 
Đọc bản văn, chúng ta thấy trong một tuần, Thiên Chúa đã làm việc sáu ngày và nghỉ ngày thứ bảy (Sabát). Trong sáu ngày làm việc, Người đã sáng tạo các sự vật theo chương trình phân tách và trang trí. Chúng ta có thể hoạ đồ những công trình của Người như sau.
 
 
    Ngày Phân tích Ngày Phân tích
1
 
2
 
3
Sáng / tối
(1, 3-5)
Nước trên/ nước dưới
( 1, 6-8)
Biển/ đất
(1, 9-10)
Cây cối
(1,11-13)
4
 
5
 
6
Mặt trời, trăng, sao
(1,14-19)
Cá/ chim
(1,20-23)
Thú vật ở đất
(1, 24-25)
Con người
(1, 26-31)
Tác giả nhằm một công việc thần học hơn là khoa học. Cách trình bày cũng như ngôn ngữ nhằm nói về Thiên Chúa và con người hơn là về vũ trụ một cách thuần tuý khoa học.
 
          b. Ý nghĩa của việc tạo dựng
 
          Sáng thế không có ý dạy ta về khoa học, nhưng được viết ra để khẳng định một chân lý rằng: Từ nguyên thuỷ, Thiên Chúa đã tạo thành trời và đất (x. St 1, 1-2, 4a). Vậy trong trình thuật Sáng thế, Thiên Chúa tạo dựng trong 6 ngày và Ngài nghỉ ngơi ngày thứ bảy liệu có mâu thuẫn với khoa học? Các triết gia và thần học gia Ki-tô giáo cho biết:
 
          Thứ nhất, người cổ đại nói đến sáu ngày tạo dựng mà chúng ta chắc chắn không được hiểu theo nghĩa đen tương đương với khái niệm “ngày” như thời của chúng ta. Một ngày trong trình thuật Sáng thế có thể kéo dài hàng ngàn, hàng vạn năm, vì đó là trình thuật có tính cách thần thoại; hơn nữa, quan niệm của những tôn giáo ở Đông Phương cũng cho biết, một ngày ở thượng giới bằng một ngàn năm ở hạ giới, vì vậy không mâu thuẫn với khoa học rằng, vũ trụ trải qua quá trình tiến hoá lâu dài và chậm chạp.
 
          Thứ hai, trong trình thuật của mình, tác giả sách Sáng thế muốn dạy ta mỗi tuần chỉ nên làm việc sáu ngày và dành một ngày để thờ phượng Thiên Chúa. Thực tế cuộc sống cho thấy, trong hoạt động một tuần, con người dùng sáu ngày để lao động, sản xuất ra của cải vật chất phục vụ cho nhu cầu ăn, mặc, ở và phương tiện đi lại. Tuy nhiên, đó không phải là tất cả nhu cầu của con người. Nhu cầu của con người còn có yếu tố tinh thần, cần được nghỉ ngơi sau những ngày lao động mệt nhọc và nhất là cần phải có nhu cầu tâm linh, vì chính ở đó, họ mới tìm được sự bình an đích thực. Vì vậy, tác giả sách Sáng thế muốn dạy chúng ta phải dành một ngày trong tuần để được bồi bổ về tinh thần qua việc đến với Thiên Chúa.
 
2. Thiên Chúa sáng tạo con người
 
          a. Thiên Chúa sáng tạo con người giống hình ảnh Chúa
 
          Trong học thuyết tiến hoá của Darwin, con người là kết quả của quá trình tiến hoá lâu dài của giới sinh vật chứ không phải được dựng nên từ bùn đất như Thánh Kinh đã nói. Nghĩa là Darwin đã dựa vào các bằng chứng của khảo cổ học và lập luận rằng, con người là do sự tiến hoá từ một loài vượn. Tuy nhiên, khi tìm hiểu kỹ lưỡng thì học thuyết đó không mâu thuẫn với chân lý được dạy trong sách Sáng thế.
 
          Như đã biết, sách Sáng thế không dạy những chân lý khoa học, nhưng có ý chuyển tải một ý nghĩa rằng, Thiên Chúa đã tạo dựng nên vũ trụ và tất cả mọi loài, trong đó có con người. Mặt khác, với nhãn quan của người Do-thái thời cổ đại, họ chỉ có thể trình bày chân lý ấy bằng phương pháp trực quan sinh động, chứ không theo phương pháp của khoa học như ngày nay. Vì vậy, việc Thiên Chúa tạo dựng nên con người từ bùn đất, hay từ những sinh vật đơn bào – đa bào… vượn - người thì cũng cùng một nghĩa rằng: thân xác con người được tạo nên từ một dạng của vật chất, nghĩa là sự sống tự nhiên. Hơn nữa, nhờ Đức tin mà chúng ta khám phá ra rằng: nguyên nhân cùng đích của sự tiến hoá thành người chính là Thiên Chúa. Và con người không chỉ có thể xác là một dạng của vật chất, mà còn có linh hồn, tức sự sống siêu nhiên vì được tham dự vào sự sống của chính Ngài.
 
           Khi nói: Thiên Chúa sáng tạo con người nên giống hình ảnh của Chúa, tác giả Thánh Kinh muốn chuyển tải một ý nghĩa rằng: con người được Thiên Chúa tạo nên có lý trí, có tự do và có tình yêu. Nghĩa là con người được Thiên Chúa cho tham dự vào những ưu phẩm của Ngài. Đây là một trong những điều quan trọng nhất mà Thánh Kinh khẳng định: con người không bị giam hãm vô vọng trong thế giới của các ảo ảnh do mình tạo nên; con người cũng không là tù nhân của các phạm trù, các cơ cấu do mình đặt ra. Con người được sáng tạo cho Sự Thật. Thiên Chúa có thể nói cho con người biết những điều cốt yếu bằng chính kinh nghiệm và ngôn ngữ của con người. Theo hình ảnh của Thiên Chúa, con người được sáng tạo và chắc chắn được sáng tạo để đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa.
 
          Như vậy, Thánh Kinh đề cao phẩm giá con người, khi khẳng định con người xuất phát từ Thiên Chúa chứ không phải là sản phẩm ngẫu nhiên của thế giới vật chất. Chính điều này mà con người là đỉnh cao công trình sáng tạo của Thiên Chúa, là tạo vật hoàn hảo nhất, vượt trên tất cả mọi tạo vật, đúng như lời Thánh vịnh đã nói: “…
Chúa cho con người chẳng thua kém thần linh là mấy,
… cho làm chủ công trình tay Chúa sáng tạo”
(Tv 8, 6-7)
 
          b. Sáng tạo con người có nam có nữ
 
          Thánh Kinh cũng cóù nói Thiên Chúa lấy xương sườn của ông A-đam để tạo nên bà E-và. Trình thuật này có ý nói rằng: người Nam và người Nữ được Thiên Chúa tạo nên để trợ giúp và bổ túc cho nhau trong sự yêu thương và tôn trọng lẫn nhau, vì cả hai đều là hình ảnh của Thiên Chúa, có cùng một phẩm giá như nhau; vợ chồng kết hợp với nhau nên một để cộng tác vào công trình sáng tạo của Thiên Chúa. Trình thuật khác của sách Sáng thế cũng cho hay: “Con người ở một mình thì không tốt” (St 2,18). Nghĩa là Thiên Chúa là Đấng không biết đến cô đơn, sáng tạo nên hai giới nam nữ không phải như phương thế bắt buộc để truyền sinh, nhưng để cho vợ chồng kết hợp trong tình yêu, sự trao hiến chính mình và chia sẻ hạnh phúc với nhau.
 
C. KẾT THÚC
 
1.      Bài học áp dụng
 
          Tin tưởng vào Thiên Chúa là nguyên nhân của vũ trụ và mọi loài mà con người được mời gọi cộng tác với Ngài để tiếp tục công trình sáng tạo tiến tới sự hoàn thành viên mãn trong trời mới đất mới. Đó là:
 
          Nên giống hình ảnh Thiên Chúa, con người được mời gọi cộng tác để tiếp tục sáng tạo nên chính mình qua việc hoàn thành nhân cách và nuôi dưỡng đời sống tâm linh. Biết tôn trọng nhân phẩm của chính mình cũng như nhân phẩm của người khác vì thân xác con người chính là Đền thờ Thiên Chúa. Tập khám phá ra tiếng Chúa nói với ta qua lương tâm và qua tương quan với mọi người trong xã hội, nhất là biết làm chủ bản thân vì lý trí của ta được thông phần với lý trí Thiên Chúa.
 
          Thiên Chúa tạo dựng nên các tạo vật và đặt con người làm chủ mọi loài với tư cách là một người quản lý của Thiên Chúa. Vì thế, không phải để con người khai thác các tạo vật cách bừa bãi, nhưng biết cộng tác với Thiên Chúa để duy trì, kéo dài và hoàn thiện thiên nhiên. Vậy một trong những cộng tác tích cực là: hãy yêu thiên nhiên và phục hồi nó theo khả năng của mỗi người. Chẳng hạn như: không vứt rác bừa bãi, không xả các chất độc hại vào thiên nhiên, vào môi trường sống, không đốt phá rừng...
 
          Như vậy, tất cả mọi tạo vật được Thiên Chúa tạo nên là để giúp con người đạt tới mục đích cuối cùng là tôn vinh Thiên Chúa và cứu rỗi linh hồn mình. Con người chỉ nên sử dụng những của cải vật chất do sự cộng tác với Thiên Chúa mà có như một phương thế để tiến tới ơn Cứu độ chứ không phải coi đó là mục đích. Chính Thiên Chúa mới là cùng đích của con người và mọi loài.
          Sự sống con người là do Thiên Chúa ban, và gần với sự sống của Người hơn các loài khác. Chỉ mình Thiên Chúa mới có quyền trên sự sống. Do đó, chúng ta cũng phải biết tôn trọng sự sống của mình và của người khác.
 
          Con người phải biết vâng lời Thiên Chúa. Chỉ trong sự vâng lời, con người mới phát triển đầy đủ và đạt được trọn ý nghĩa của định mệnh mình, và do đó, mới có thể cộng tác với kế hoạch của Thiên Chúa.
 
2. Gợi ý cầu nguyện
 
          Lạy Chúa, Chúa là Đấng Tạo dựng muôn loài, muôn vật. Chúng con xin dâng lời cảm tạ Chúa, vì đã cho loài người chúng con vinh dự cao quí vượt trên mọi loài, mọi vật của vũ trụ này, là có linh hồn thiêng liêng bất tử, để chúng con bá chủ muôn loài và để chúng con biết Chúa, yêu mến Chúa cùng phục vụ đồng loại sống cuộc đời vui tươi, hào hứng, đáng sống ở đời này, hy vọng về sống mãi muôn đời với Chúa đời sau. Amen.
 
BẠN CÓ BIẾT ?
 
CON NGƯỜI LÀ HÌNH ẢNH CỦA THIÊN CHÚA
 
Khoa sinh vật học ngày nay cho biết rằng các sinh vật xuất hiện trên trái đất từ những thời kỳ khác nhau: những sinh vật đơn giản đã có trước, những sinh vật càng có cơ thể phức tạp càng xuất hiện muộn.
 
Cách đây 500-220 triệu năm: lần lượt xuất hiện các sinh vật không xương sống ở biển rồi đến cá, ếch, nhái. Cách đây 220-70 triệu năm: các sinh vật thuộc loài bò sát. Cách đây 70-1 triệu năm: các sinh vật thuộc lớp có vú. Cách năm 1 triệu năm trở lại: con người.
 
Người ta suy ra rằng đã có một sự tiến triển: các sinh vật có trước đã dần dần trở mình và nhảy vọt lên thành những sinh vật cao cấp hơn. Cách suy nghĩ ấy gọi là thuyết tiến hoá.
 
Theo cách suy nghĩ ấy, người ta cho rằng con người và vượn người có chung một nguồn gốc. Người ta ghi nhận giữa người và vượn người có những điểm giống nhau và những điểm khác nhau.
 
Những điểm giống nhau giữa người và vượn người:
Hình dạng và kích thước tương tự nhau. Não bộ, hệ thần kinh, hệ tuần hoàn và các tuyến nội tiết của đôi bên đều có cơ cấu và sự vận hành giống nhau. Cũng có một số bệnh chỉ gặp nơi con người và vượn người. Máu của hai bên đều gồm các loại A, B, AB, O, Rh.
 
Những điểm khác biệt giữa người và vượn người:
 
Chỉ có con người mới có dáng đứng thẳng. Não bộ của con người phát triển và có khối lượng vượt hẳn khối lượng não bộ của vượn người (1600 phân khối so với 600 phân khối). Đặc biệt chỉ có con người mới biết dùng lửa, trồng trọt, chế tạo dụng cụ. Điều khác biệt nhất là con người có ngôn ngữ: vượn chỉ biết kêu, còn người thì biết nói.
 
Ngôn ngữ chứng tỏ con người có ý thức, có tư duy trừu tượng, biết suy luận. Đó là chỉ mới so sánh bên ngoài thôi, chưa nói đến tự do và tình yêu mến.
 
Tất cả những điều ấy cho thấy con người được dựng nên thật cao cả.
“Con người là chi mà Chúa cần nhớ đến,
Phàm nhân là gì mà Chúa phải bận tâm?”
(Tv 8)
 
BÀI ĐỌC THÊM
 
Những vấn nạn
 
- Quan điểm vô thần
 
Trong giai đoạn hiện nay, với sự phát triển không ngừng của khoa học, đặc biệt là những đột phá ngoạn mục trong ngành vũ trụ học đã vô tình củng cố thêm luận cứ cho một hoài nghi về vấn đề hiện hữu của Thiên Chúa cũng như nguồn gốc thực sự của vũ trụ. Nhiều người từng kết luận, những hiểu biết khoa học về quá trình tiến hóa của vũ trụ đã làm suy giảm đức tin tâm linh của con người. Kết luận này được bắt nguồn từ cách hiểu về Thánh Kinh rằng, trong trình thuật về sự sáng tạo, Thiên Chúa đã tạo dựng nên toàn cõi vũ trụ trong vòng sáu ngày (x. St 1, 3-31), do đó mâu thuẫn với quan điểm của các nhà khoa học ngày nay: vũ trụ bắt đầu từ một “vụ nổ” và thường được gọi với thuật ngữ “Big Bang” - một học thuyết được Georger Gamow đưa ra vào năm 1948 [1]. Học thuyết này cho biết, sau hàng tỷ năm, các ngôi sao và thiên hà bắt đầu hình thành, nghĩa là vũ trụ của chúng ta phải trải qua một quá trình tiến hóa lâu dài và chậm chạp chứ không phải là trải qua sáu ngày như Thánh Kinh đã nói.
 
Quan điểm thịnh hành ở thời điểm đó cho rằng, vũ trụ trong trạng thái tồn tại vĩnh hằng nên không có khởi điểm, nghĩa là không có bàn tay của Thiên Chúa hay của một vị thần nào trong sự xuất hiện của nó. Đại diện tiêu biểu nhất cho quan điểm này là học thuyết của chủ nghĩa Mác-Lênin. Theo họ, vũ trụ là sản phẩm thuần tuý của tự nhiên chứ không phải là công trình sáng tạo của Thiên Chúa hay một vị thần nào khác.
 
- Quan điểm hữu thần
 
Đối lập với quan điểm vô thần, các nhà khoa học hữu thần khẳng định, vũ trụ phải có một thời khắc khởi đầu trong quá khứ chứ không phải tự nó được hình thành như lập luận của các nhà khoa học vô thần. Họ khẳng định, khi chúng ta lấy sự hiểu biết của thời đại mình để đo lường tri thức thời tiền sử như vậy, thì đích thực là giả thuyết và phương thức giải quyết vấn đề của Thánh Kinh và khoa học lại không tương thích với nhau. Thực tế cho thấy, có rất nhiều quan điểm coi lý thuyết "Big Bang" như là một lời khẳng định ý niệm của Thiên Chúa về sự tạo thành vũ trụ. Bằng chứng đầu tiên của lý thuyết "Big Bang" được khám phá vào năm 1929 bởi nhà thiên văn người Mỹ Edwin Hubble. Các quan sát của Hubble chỉ ra rằng: vũ trụ đang giãn nở [1]. Không ít nhà khoa học đã bác bỏ ý kiến này, bởi theo họ, nó mang bóng dáng tư tưởng của tôn giáo. Nếu vũ trụ có một khởi đầu thì phải có một Đấng tạo hóa và cũng đồng nghĩa với việc không có chỗ cho khoa học. Tuy nhiên, khám phá của Hubble về sự giãn nở của vũ trụ đã đặt dấu chấm hết cho một vũ trụ tĩnh không thay đổi theo thời gian; đồng thời nó cũng đưa chúng ta tới một suy luận rằng, vũ trụ có một thời khắc khởi đầu xác định trong quá khứ. Hơn nữa, quan niệm này đã củng cố cho thuyết tương đối rộng của Einstein, mà ở đó, nó đưa ra một loạt các phương trình phức tạp để miêu tả cách thức mà vũ trụ xuất hiện từ hư không, nghĩa là phải có bàn tay tác động của Đấng Tạo Hoá. Vậy ai đã tạo ra vũ trụ vật chất này? Ai đã làm ra các định luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng vào trong vật chất? Ai đã làm cho sự sống được nảy sinh và tiến triển theo một chiều hướng đi lên?
 
 BAN GIÁO LÝ (Gp. Thái Bình)
Tài liệu Giáo lý Thánh Kinh do BGL Gp. Thái Bình sưu tầm và biên soạn (2008)