28/04/2018
758
GIÁO LÝ KINH THÁNH
 
BÀI 4
TỘI NGUYÊN TỔ VÀ LỜI HỨA BAN ĐẤNG CỨU ĐỘ
 
A. DẪN NHẬP
 
1. Thánh hoá đầu giờ
 
(GLV tùy nghi có thể hát một bài hoặc đọc một kinh hay một lời nguyện)
          Lạy Chúa, con chúc tụng và cảm tạ Chúa đã ban Lời Hằng Sống cho con. Lời Chúa là sự sống, là ánh sáng, bình an, hoan lạc và yêu thương. Xin Thánh Thần Chúa ngự xuống tràn đầy trên con, mở đôi mắt tâm linh và trái tim, để con thấu hiểu và cảm nhận Lời Chúa đang nói với con. Xin cho con sống và thực hành Lời Chúa hôm nay và suốt cả đời con. Amen.
 
2. Câu chuyện minh hoạ “Tự nhận thức”.
 
          Có lần, một người thợ săn tìm thấy một quả trứng đại bàng ở trên một khe núi. Anh ta muốn trả lại quả trứng đó về tổ đại bàng, nhưng điều ấy quả là rất khó khăn. Vì vậy, anh ta quyết định thực hiện điều tốt nhất mà mình có thể làm được cho quả trứng ấy. Anh thợ săn đem trứng đại bàng về nhà và đặt vào giữa những quả trứng gà đang được ấp trong trang trại của mình.
 
          Con gà mái không hề nhận ra, nó ấp cả trứng gà lẫn trứng đại bàng. Sau vài tuần lễ, trứng nở ra gà và một con đại bàng con. Đại bàng con lớn lên cùng với gà con. Nhưng nó không bao giờ nghĩ nó là loài đại bàng, nên nó vẫn làm theo những gì mà gà con đã làm. Nó kêu chíp chíp như những con gà con khác, bới đất để tìm thức ăn và vỗ cánh như chúng.
 
          Thời gian trôi qua, gà con lớn lên thành gà mái, gà trống và lìa đàn để có gia đình chung của chúng. Con đại bàng cũng già đi nhưng nó vẫn cứ tưởng mình là một con gà. Một hôm, trên bầu trời xuất hiện một con chim lớn, đẹp, đang giang rộng đôi cánh bay lượn một cách oai hùng. Con đại bàng già thều thào hỏi: “Con chim xinh đẹp và oai hùng kia là chim gì vậy?”. Các bạn gà của nó đáp: “Đó là một con đại bàng, vua của loài chim. Bạn không bao giờ có thể giống được đại bàng đâu. Bạn chỉ là một con gà lười biếng”. Vì thế, con đại bàng già sống và chết như một con gà, không bao giờ nghĩ rằng: nó là một con chim đại bàng.
 
3. Dẫn vào bài
 
          Ngụ ý của câu chuyện cho chúng ta thấy: Một con vật lẽ ra có thể bay cao trên bầu trời, nhưng không bao giờ nhận ra mình là ai, cho nên nó đã sống đời sống của một con gà. Điều ấy cũng có thể xảy ra với con người khi họ không biết nhận ra mình đã được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa; không biết gìn giữ và tôn trọng nhân phẩm của mình. Đây cũng chính là ngụ ý mà tác giả sách Sáng thế muốn truyền đạt cho chúng ta trong đoạn Thánh Kinh sau đây. Mời các bạn cùng lắng nghe.
 
4. Đọc Thánh Kinh  (St 3, 1 - 24).
 
          Lời Chúa trong sách Sáng thế.
          Rắn là loài xảo quyệt nhất trong mọi giống vật ngoài đồng, mà ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa đã làm ra. Nó nói với người đàn bà: "Có thật Thiên Chúa bảo: 'Các ngươi không được ăn hết mọi trái cây trong vườn không ?' Người đàn bà nói với con rắn: "Trái các cây trong vườn, thì chúng tôi được ăn. Còn trái trên cây ở giữa vườn, Thiên Chúa đã bảo: 'Các ngươi không được ăn, không được động tới, kẻo phải chết." Rắn nói với người đàn bà: "Chẳng chết chóc gì đâu ! Nhưng Thiên Chúa biết ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ nên như những vị thần biết điều thiện điều ác." Người đàn bà thấy trái cây đó ăn thì ngon, trông thì đẹp mắt, và đáng quý vì làm cho mình được tinh khôn. Bà liền hái trái cây mà ăn, rồi đưa cho cả chồng đang ở đó với mình; ông cũng ăn. Bấy giờ mắt hai người mở ra, và họ thấy mình trần truồng : họ mới kết lá vả làm khố che thân. Nghe thấy tiếng ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa đi dạo trong vườn lúc gió thổi trong ngày, con người và vợ mình trốn vào giữa cây cối trong vườn, để khỏi giáp mặt ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa. ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa gọi con người và hỏi: "Ngươi ở đâu ?" Con người thưa: "Con nghe thấy tiếng Ngài trong vườn, con sợ hãi vì con trần truồng, nên con lẩn trốn." ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa hỏi: "Ai đã cho ngươi biết là ngươi trần truồng ? Có phải ngươi đã ăn trái cây mà Ta đã cấm ngươi ăn không ?" Con người thưa: "Người đàn bà Ngài cho ở với con, đã cho con trái cây ấy, nên con ăn." ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa hỏi người đàn bà: "Ngươi đã làm gì thế ?" Người đàn bà thưa: "Con rắn đã lừa dối con, nên con ăn." ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa phán với con rắn: "Mi đã làm điều đó, nên mi đáng bị nguyền rủa nhất trong mọi loài súc vật và mọi loài dã thú. Mi phải bò bằng bụng, phải ăn bụi đất mọi ngày trong đời mi. Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy; dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi, và mi sẽ cắn vào gót nó." Với người đàn bà, Chúa phán: "Ta sẽ làm cho ngươi phải cực nhọc thật nhiều khi thai nghén ; ngươi sẽ phải cực nhọc lúc sinh con. Ngươi sẽ thèm muốn chồng ngươi, và nó sẽ thống trị ngươi." Với con người, Chúa phán: "Vì ngươi đã nghe lời vợ và ăn trái cây mà Ta đã truyền cho ngươi rằng: 'Ngươi đừng ăn nó', nên đất đai bị nguyền rủa vì ngươi; ngươi sẽ phải cực nhọc mọi ngày trong đời ngươi, mới kiếm được miếng ăn từ đất mà ra. Đất đai sẽ trổ sinh gai góc cho ngươi, ngươi sẽ ăn cỏ ngoài đồng. Ngươi sẽ phải đổ mồ hôi trán mới có bánh ăn, cho đến khi trở về với đất, vì từ đất, ngươi đã được lấy ra. Ngươi là bụi đất, và sẽ trở về với bụi đất." Con người đặt tên cho vợ là E-và, vì bà là mẹ của chúng sinh. ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa làm cho con người và vợ con người những chiếc áo bằng da và mặc cho họ. ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa nói: "Này con người đã trở thành như một kẻ trong chúng ta, biết điều thiện điều ác. Bây giờ, đừng để nó giơ tay hái cả trái cây trường sinh mà ăn và được sống mãi." ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa đuổi con người ra khỏi vườn Ê-đen để cày cấy đất đai, từ đó con người đã được lấy ra. Người trục xuất con người, và ở phía đông vườn Ê-đen, Người đặt các thần hộ giá với lưỡi gươm sáng loé, để canh giữ đường đến cây trường sinh.
          Đó là Lời Chúa.
 
B. NỘI DUNG
 
1. Con người bị cám dỗ và sa ngã
 
          Theo trình thuật Thánh Kinh, “rắn là loài xảo quyệt nhất trong mọi giống vật ở ngoài đồng mà Thiên Chúa đã làm ra” (St 3, 1). Con rắn  tượng trưng cho một quyền lực ác cám dỗ con người để phá vỡ hạnh phúc của họ. Trong văn chương các dân tộc Trung Đông, rắn vừa là loài độc ác, vừa là loài linh thiêng. Tuy nhiên, chúng ta phải khẳng định rằng: Cái xấu không đến từ Thiên Chúa bởi vì Ngài tạo dựng nên mọi sự đều tốt đẹp.
 
          a. Cám dỗ
          Chúng ta vẫn thường nghe người ta nói tới trái táo hay trái cấm, nhưng thực ra trong bài trình thuật Thánh Kinh mà chúng ta vừa nghe, không hề có trái táo hay trái cấm nào cả, mà đó là cây biết điều thiện ác và hoa trái của nó. “Cơn cám dỗ đến và nguỵ trang dưới chiếc áo tốt lành là quyến rũ ta đi tìm sự khôn ngoan. Nên biết, người xưa dùng động từ ăn chỉ việc học đi học lại cho thuộc lòng những lời nói của các thánh hiền: người ta ăn những hoa trái của sự khôn ngoan. Cây cho biết thiện ác có nghĩa là nghệ thuật sống và thành công và cũng chính là sự tự do của con người mở ra cho nó con đường dẫn tới thiện và ác, sống và chết. Ở đây, Thiên Chúa lại đặt con người trong một hoàn cảnh có mâu thuẫn, khi để sự khôn ngoan ở trong tầm tay của họ, nhưng đồng thời lại nói: Ngươi không được ăn. Vậy trước hết, con người phải khước từ việc chiếm đoạt sự khôn ngoan để rồi cho rằng mình giống như Thiên Chúa biết điều thiện ác”.
          Như vậy, điều con rắn nói là không sai: đối với con người, đâu có gì là quá cao vời, không với tới được. Nhưng nó cũng khơi gợi nơi lòng con người sự nghi ngờ đối với Thiên Chúa.
 
          b. Sa ngã
          Cuộc đối thoại tay ba (Thiên Chúa – A-đam, E-và) trong trình thuật Thánh Kinh mà chúng ta vừa nghe cho thấy, người đàn bà thèm ăn, nhưng người đàn ông mới thật sự là thủ phạm. Người đàn bà dụ dỗ, vì trong thời đó, điều này là sự thật vì tác giả thấy nhởn nhơ trong xã hội mình cảnh người ta khai thác phụ nữ, cũng như cái khéo léo của kẻ bị người khác khai thác để lấy lòng các ông chủ của họ. Nhưng vì thấy hai bên không đau khổ đồng đều, nên tác giả kết luận là chắc chắn người đàn bà là người đầu tiên đã bất trung với Thiên Chúa. Hai chi tiết: một là Mắt ông bà sẽ mở ra – để thấy mình trần truồng; hai là Ông bà sẽ nên như vị thần biết điều thiện ác – mà ở đây, họ chỉ còn có biết đến cái ác. Điều này nói lên cách mỉa mai về nỗi thất vọng ê chề của người có tội.
          Như vậy, con rắn và bà E-và không biểu trưng cho ma quỉ cám dỗ hoặc người nữ là nguồn gốc của mọi yếu hèn đáng bị quở trách. Cả con rắn và bà E-và đều là thụ tạo của Thiên Chúa, nhưng cả hai đều có ý đồ muốn làm Thiên Chúa hay bằng Thiên Chúa mà không cần đến Ngài. Ngay cả ông A-đam cũng thế, ông cũng có ý đồ như vậy. Họ đều là những con người trưởng thành, có trí khôn, có hiểu biết và có tự do. Họ biết giao ước giữa họ và Thiên Chúa: lệnh cấm ăn trái cây của cây biết lành dữ chính là ranh giới giữa Đấng Sáng tạo và loài thụ tạo. Cả A-đam, E-và cũng như con rắn đều biết điều này, nhưng tất cả đều đã chọn không ở trong hàng thụ tạo của mình. Chính sự chọn lựa do lòng tự phụ và bất phục tùng này là nguyên nhân của tội lỗi.
 
2. Hậu quả của tội nguyên tổ
 
          Con người được dựng nên để sống thân mật với Thiên Chúa. Mỗi lần nghe bước chân Chúa đến, lẽ ra con người phải sung sướng reo lên: “Lạy Chúa con đây”. Thế nhưng sau khi phạm tội, con người đã chạy trốn Thiên Chúa khiến Ngài phải lên tiếng hỏi: “A-đam, ngươi ở đâu?” (St 3, 9).
 
          Thực tế cuộc sống cho thấy, nếu chúng ta biết sử dụng đúng đắn tự do để mưu cầu hạnh phúc cho mình và cho người khác, thì cuộc đời sẽ trở nên tốt đẹp và bình an. Nhưng nếu con người chỉ dùng tự do theo ý riêng mình mà thôi, mặc kệ tự do của người khác, kể cả tự do của Thiên Chúa, con người có thể vui hưởng được giây lát, trong tạm bợ và ảo tưởng, nhưng rồi chỉ mang hại đến cho mình: ngại đối thoại với Thiên Chúa và với những người đạo đức, nên hậu quả của tội lỗi được thể hiện ra là:
 
          a. Cắt đứt mối quan hệ giữa con người với Thiên Chúa
          Sau khi sa ngã, A-đam và E-và mất quân bình khi thấy mình trần truồng (x.St 3,7) và chạy trốn Thiên Chúa (x.St 3,8). Họ biết mình trần truồng, tức là họ mất đi giao ước không còn hưởng phúc sống chung với Thiên Chúa trong vườn địa đàng và không còn hưởng ân huệ trường sinh. Đánh mất sự hòa hợp với Thiên Chúa, con người bị chia rẽ và xáo trộn nơi chính bản thân mình. Và hậu quả bi đát nhất là con người phải chết. Cái chết đã đến với con người, nên sinh ra là người ai cũng phải chết (x.Rm 5,12). Và từ tội đầu tiên này, tội lỗi đã lan tràn và thống trị khắp thế giới. "Nhìn sâu tận đáy lòng mình, con người cũng khám phá ra rằng, mình đã hướng về sự dữ và đã ngụp lặn trong muôn vàn sự dữ là những điều không thể xuất phát từ Đấng Tạo Hóa. Nhiều khi từ chối không nhìn nhận Thiên Chúa như nguyên ủy của mình, con người cũng đã phá đổ trật tự phải có để đạt tới cứu cánh.
 
          b. Cắt đứt mối quan hệ giữa con người với con người
          Giữa A-đam và E-và không còn cảm nghiệm hiệp nhất như trước nữa, không còn tin tưởng ở nhau, người này đổ lỗi cho người kia và không ai chịu nhận lỗi về mình (x.St 3,16). Từ tội đầu tiên này cả trần thế bị chìm trong tội lỗi: huynh đệ tương tàn, khởi đầu là Ca-in giết A-ben (x. St 4, 3-15); tiếp đến là sự sa đọa của cả loài người. Cũng vậy, trong lịch sử Ít-ra-en, tội thường xuyên xuất hiện, nhất là dưới dạng bất trung với Thiên Chúa và sự vi phạm luật Mô-sê; cả sau khi Đức Ki-tô đã sống lại, tội vẫn tiếp tục xuất hiện dưới nhiều dạng ngay giữa những người Ki-tô hữu (x. 1Cr 1-6; Kh 2-3). Thánh Kinh và truyền thống Hội Thánh không ngừng nhắc nhở tội hiện diện khắp nơi trong lịch sử loài người: Điều Thiên Chúa mặc khải cho ta biết, cũng được kinh nghiệm của ta xác nhận. Bởi Vì nếu nhìn sâu tận đáy lòng, con người cũng khám phá ra mình hướng về sự dữ, và ngụp lặn trong muôn vàn sự dữ là những điều không thể xuất phát từ Đấng Tạo Hóa tốt lành.
 
          c. Cắt đứt mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên
          Không còn hoà thuận với nhau, A-đam và E-và mất đi quyền thống trị muôn loài trong hoà bình và trong công lý. Đất đai đã chống lại con người và con người phải vất vả cực nhọc mới chinh phục được thiên nhiên. Cuối cùng, con người phải trở về bụi đất (x.St 3,18-19).
 
3. Lời hứa ban Đấng Cứu Độ
 
          Khi đã phạm tội chống lại Thiên Chúa, con người trở nên thù địch của Ngài. Thế nhưng Thiên Chúa vẫn tiếp tục yêu thương tha thứ. Thiên Chúa đã dựng nên con người thật cao quí. Ngài không nỡ thấy tạo vật ấy bị hư hỏng luôn, cho nên Ngài tìm mọi cách để cứu vãn. Ngài đã hứa ban Đấng Cứu thế đến để cứu chuộc con người, phục hồi phẩm giá cho họ và cho họ được trở lại trạng thái ban đầu là sống thân tình với Thiên Chúa (x. St 1, 15).
 
          Thật ra tội lỗi con người không làm hỏng chương trình của Thiên Chúa, mà là cơ hội Thiên Chúa biểu lộ tình thương xót nhân từ không biết mệt mỏi của Người, hầu đưa toàn thể nhân loại đạt tới cùng đích của mình là sự sống muôn đời. Việc Chúa Ki-tô khải hoàn vinh thắng đã mang lại cho chúng ta những lợi ích lớn lao hơn là những gì mà tội đã làm mất đi. "Ở đâu tội lỗi đã lan tràn, ở đó ân sủng càng chứa chan gấp bội" (Rm 5, 20).
 
C. KẾT THÚC
 
1. Bài học áp dụng         
          
          Tất cả mọi người đều chịu ảnh hưởng của tội lỗi. Cuộc sống con người trên trần gian trở thành cuộc chiến đấu chống lại sự ác dưới mọi hình thức, nơi bản thân cũng như nơi xã hội, để đạt tới sự tốt lành như Thiên Chúa muốn.
          Trong câu chuyện kể trên, chúng ta thấy anh thợ săn đã tìm mọi cách tốt nhất mà anh ta có thể thực hiện cho quả trứng đại bàng; nhưng mặt khác, chúng ta cũng đừng giống như con đại bàng: đánh mất chính mình, không còn nhận ra mình là ai. Ý thức về nhân phẩm của mình, chúng ta phải gìn giữ và phát huy mối tương quan giữa mình với Thiên Chúa, với mọi người và với mọi tạo vật khác.
 
2. Gợi ý cầu nguyện
 
          Lạy Chúa, Nguyên tổ chúng con đã phạm tội vì đã không chấp nhận vị thế của mình, muốn đặt mình ngang hàng với Thiên Chúa nên bị cám dỗ và sa ngã. Cơn cám dỗ đó ngày hôm nay cũng vẫn luôn theo đuổi chúng con. Chúng con xin lỗi Chúa vì biết bao tội lỗi của loài người và của chính bản thân mỗi người chúng con... Chúng con cám ơn Chúa vì Ngài đã gửi Đức Giê-su đến cứu độ, tha thứ mọi tội lỗi và cho chúng con được làm con cái của Chúa. Xin cho chúng con luôn ý thức về thân phận yếu đuối của mình và tín thác vào sự quan phòng của Chúa. Amen.
 
BẠN CÓ BIẾT ?
 
HA-LÊ-LUI-A / ALÊLUIA
Trong tiếng Híp-ri, Hallel có nghĩa là ngợi khen. YA là “Gia-vê” (YAWH). Halleluia nghĩa là “ngợi khen Gia-vê”; “ngợi khen Thiên Chúa”.
 
AMEN
Trong tiếng Híp-ri có nghĩa là “quả thật, đúng như vậy”, cũng có thể dịch là: “Được, hoan hô, đồng ý, tán thành” và “ước được như vậy”.
 
BẢN DỊCH BẢY MƯƠI
Bản dịch Kinh Thánh đầu tiên từ tiếng Híp-ri sang tiếng Hy-lạp, công việc kéo dài 100 năm (250-150 trước công nguyên) do 70 người thực hiện.
 
BẢN DỊCH PHỔ THÔNG
Bản dịch Kinh Thánh sang tiếng La-tinh nhằm phổ biến rộng trong Hội Thánh Công Giáo, do thánh Giê-rô-ni-mô (347-419) thực hiện.
 
THỦ BẢN BIỂN CHẾT
Người Do Thái xưa chép Kinh Thánh trên những cuộn giấy da. Họ sao chép từng mảng, hết sức tỉ mỉ, không để sai chạy một nét nào. Những cuộn Kinh Thánh đã quá cũ được xếp vào một chỗ riêng để tự hoại theo thời gian. Vì thế, ta không có được những thủ bản bằng tiếng Hip-ri trước thế kỷ thứ XIX. May thay vào năm 1947, tại Cum-ran (Qumran) gần biển Chết, giữa tàn tích của một tu viện phái Ét-xê-nô người ta tìm thấy một thư viện chôn dấu từ thế kỷ thứ nhất sau công nguyên. Trong đó, có những miếng da sao chép Kinh Thánh của tất cả các sách trong bộ Cựu ước (trừ sách Ét-te). Nhiều bản còn nguyên vẹn. Sách I-sa-i-a đầy đủ từ đầu đến cuối. Những tài liệu này có từ thế kỷ thứ II hoặc thế kỷ thứ I trước công nguyên, nhưng đối chiếu với các bản văn tiếng Híp-ri thế kỷ thứ IX ta thấy một sự trùng khít đáng kinh ngạc.
 
 BAN GIÁO LÝ (Gp. Thái Bình)
Tài liệu Giáo lý Thánh Kinh do BGL Gp. Thái Bình sưu tầm và biên soạn (2008)