03/05/2018
344
GIÁO LÝ KINH THÁNH
 
 
BÀI 5
ÁP-RA-HAM VÀ CÁC TỔ PHỤ KHÁC
 
A. DẪN NHẬP
 
1. Thánh hoá đầu giờ
 
          (GLV tùy nghi có thể hát một bài hoặc đọc một kinh hay một lời nguyện)
          Lạy Chúa Thánh Thần xin thương ngự đến trong tâm hồn con, giúp con trưởng thành trong đức tin, kiên trì trong đức cậy và nồng nàn trong đức mến, để mọi hành động lớn nhỏ trong đời sống con, đều được thấm nhuần ơn sủng Chúa, để con sống chứng nhân cho Chúa và để danh Chúa được mọi người kính phục và tôn vinh. Amen.
 
2. Câu chuyện minh hoạ “Ca mổ đầu tiên”.
 
          Chuyện kể rằng, có một bà cụ được đưa vào phòng mổ trên chiếc giường có bánh xe. Bà cụ có vẻ lo lắng, bà run run nói: “Thưa bác sỹ, xin bác sỹ nhẹ tay với tôi, vì đây là lần đầu tiên tôi được giải phẫu”.
 
          Bác sỹ giải phẫu bình thản nhìn bà và nói: “Xin bà đừng lo, chúng ta ở trong cùng một hoàn cảnh. Đây cũng là lần đầu tiên tôi thực hiện việc giải phẫu”.
 
3. Dẫn vào bài
 
          Nội dung câu chuyện trên cho thấy, nếu bác sỹ nói rằng ca giải phẫu của bạn sẽ thành công và bạn tin vào lời bác sỹ nói, dù rằng bạn không biết kết quả giải phẫu sẽ như thế nào, thì đó là sự tin tưởng – một sự tin tưởng nhân bản.
 
          Cũng vậy, đức tin vào Thiên Chúa là tin tưởng vào lời nói của Ngài, dù rằng chúng ta không thể biết lời ấy thực hiện như thế nào. Đó chính là niềm tin của Áp-ra-ham và Tổ phụ, là những nhân vật quan trọng trong lịch sử cứu độ mà chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu hôm nay. 
 
4. Đọc Thánh Kinh (St 12, 1 – 9; 17, 1 - 8)
 
          Lời Chúa trong Sách Sáng Thế.
          ĐỨC CHÚA phán với ông Áp-ram: "Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi, mà đi tới đất Ta sẽ chỉ cho ngươi. Ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn, sẽ chúc phúc cho ngươi. Ta sẽ cho tên tuổi ngươi được lẫy lừng, và ngươi sẽ là một mối phúc lành. Ta sẽ chúc phúc cho những ai chúc phúc cho ngươi; Ai nhục mạ ngươi, Ta sẽ nguyền rủa. Nhờ ngươi, mọi gia tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc." Ông Áp-ram ra đi, như ĐỨC CHÚA đã phán với ông. Ông Áp-ram được bảy mươi lăm tuổi khi ông rời Kha-ran. Ông Áp-ram đem theo vợ là bà Xa-rai, cháu là ông Lót, và mọi tài sản họ đã gầy dựng được, cùng với gia nhân họ đã có tại Kha-ran. Họ ra đi về phía đất Ca-na-an và đã tới đất đó. Ông Áp-ram đi qua đất ấy, đến nơi gọi là Si-khem, đến cây sồi Mô-rê. Thời bấy giờ, người Ca-na-an đang ở trong đất ấy. ĐỨC CHÚA hiện ra với ông Áp-ram và phán: "Ta sẽ ban đất này cho dòng dõi ngươi." Tại đây ông dựng một bàn thờ để kính ĐỨC CHÚA, Đấng đã hiện ra với ông. Từ chỗ ấy, ông sang miền núi, ở phía đông Bết Ên. Ông cắm lều giữa Bết-Ên ở phía tây và Ai ở phía đông. Tại đây ông dựng một bàn thờ để kính ĐỨC CHÚA và ông kêu cầu danh ĐỨC CHÚA. Rồi ông đi từ chặng nọ qua chặng kia đến miền Ne-ghép. Khi ông Áp-ram được chín mươi chín tuổi, ĐỨC CHÚA hiện ra với ông và phán: "Ta là Thiên Chúa Toàn Năng. Ngươi hãy bước đi trước mặt Ta và hãy sống hoàn hảo. Ta sẽ đặt giao ước của Ta giữa Ta với ngươi, và Ta sẽ cho ngươi trở nên đông, thật đông." Ông Áp-ram cúi rạp xuống. Thiên Chúa phán với ông rằng: "Phần Ta, đây là giao ước của Ta với ngươi : ngươi sẽ làm cha của vô số dân tộc. Người ta sẽ không còn gọi tên ngươi là Áp-ram nữa, nhưng là Áp-ra-ham, vì Ta đặt ngươi làm cha của vô số dân tộc. Ta sẽ cho ngươi sinh ra nhiều, thật nhiều: Ta sẽ làm cho ngươi thành những dân tộc, và vua chúa sẽ phát xuất từ ngươi. Ta sẽ lập giao ước của Ta giữa Ta với ngươi và với dòng dõi ngươi sau này, từ thế hệ này qua thế hệ khác. Đây sẽ là giao ước vĩnh cửu, do đó Ta sẽ là Thiên Chúa của ngươi và của dòng dõi ngươi sau này. Ta sẽ ban cho ngươi và dòng dõi ngươi sau này miền đất ngươi đang trú ngụ, tức là tất cả đất Ca-na-an, làm sở hữu vĩnh viễn; và Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng."
          Đó là Lời Chúa.
 
B. NỘI DUNG
 
1- Tổ phụ là ai ?
 
          Theo thuật ngữ, “tổ phụ” mang nhiều ý nghĩa khác nhau, nhưng ở đây chỉ muốn nói về các tổ phụ đầu tiên của dân tộc Ít-ra-en: Áp-ra-ham, I-xa-ác, Gia-cóp và Giu-se. Đó cũng là quan niệm thông thường. Có trường hợp người ta nói “các tổ phụ trước Hồng Thủy”(x. St 5), nhưng các tổ phụ này thuộc về một thời đại khác và cần cứu xét theo mọt đường lối khác. Ở đây chỉ xin thông qua vấn đề này. Khi nói đến các tổ phụ, có thể người ta muốn nói các con của Gia-cóp, nhưng thực ra thời tổ phụ kéo dài từ khi Áp-ra-ham được Thiên Chúa gọi cho đến khi các thị tộc nhà Gia-cóp di cư sang Ai-cập.
 
2 – Tổ phụ Áp-ra-ham
 
          a - Thiên Chúa gọi Áp-ra-ham
          Vào khoảng năm 1800 TCN, một số bộ lạc du mục cùng với đoàn súc vật của họ rời xứ Ca-đê đến sinh sống tại Ai-cập. Trong các bộ lạc và thị tộc du mục ấy, có một số gia đình mà người đứng đầu là ông Áp-ra-ham[1]. Ông là một người phú quí nhưng lại không có con: Thiên Chúa Duy Nhất đã được mạc khải cho ông, và với ông, công trình cứu độ đã bắt đầu cho một dân tộc. Vì vậy, Trong cuộc di dân rời khỏi Ca-đê, Áp-ra-ham ấp ủ một niềm hy vọng lớn lao là tin vào lời hứa của Đấng mà ông gọi là Thiên Chúa đã gọi ông: “Ngươi hãy bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cửa thân phụ ngươi, để đi đến một miền Ta sẽ chỉ cho. Ta sẽ làm cho ngươi trở thành một dân tộc vĩ đại” (St 12, 1-2).
 
          Việc Thiên Chúa gọi Áp-ra-ham bắt đầu cách khá đột ngột, nhưng đây là khởi điểm của một giai đoạn mới trong lịch sử cứu độ, do sáng kiến của Thiên Chúa. Lời Thiên Chúa nói cho ông biết ý Ngài, gồm một lệnh truyền và một lời hứa. Lệnh truyền rời bỏ quê hương họ hàng mà ra đi. Đối với người du mục, đó là một sự cắt đứt lớn lao và liều lĩnh, nhất là khi ông Áp-ra-ham phải bỏ để đi đến một nơi chưa xác định. Lời hứa là Thiên Chúa sẽ ban phúc lành. Áp-ra-ham đã vâng lệnh ra đi. Ông không nói gì, không hỏi lý do và ra đi như một người mất gốc bơ vơ, chỉ tin tưởng và dựa dẫm vào lời Thiên Chúa. Ông phó thác vận mệnh của mình cho Thiên Chúa và quyết lên đường tìm kiếm Đấng mà ông chưa hề biết, nhưng sẽ dủ lòng thương xót và ban cho vợ chồng ông một mụn con. Ông đã ra đi vì muốn đáp lại lời kêu gọi của Thiên Chúa. Niềm hy vọng chớm nở trong tái tim, Áp-ra-ham cảm thấy như một lời hứa của Thiên Chúa.
 
          b - Lời hứa của Thiên Chúa
          Để thể hiện mối liên hệ thân thiện, Thiên Chúa đã thiết lập minh ước với Áp-ra-ham bằng cách ban cho ông lời hứa. Nội dung của lời hứa bao gồm:
- Một dân tộc sẽ phát xuất từ Áp-ra-ham.
- Một đất nước thuộc quyền sở hữu của dân tộc này.
- Một phúc lành của Thiên Chúa được ban xuống cho các dân trên thế giới nhờ Áp-ra-ham.
 
          Kể từ đó, trong những năm tháng dài lê thê của tuổi già, Áp-ra-ham cứ tiếp tục đi theo một lộ trình dài, nhưng đó cũng là một cuộc hành trình nội tâm, một cuộc hành trình của đức tin. Ông dám từ bỏ mọi quyến luyến của gia đình xứ sở, trở thành cô độc trước mặt Thiên Chúa, hoàn toàn tín nhiệm vào một mình Thiên Chúa là Đấng tối cao. Sau cùng, chính Thiên Chúa ban cho ông một mụn con mà ông hằng ao ước, đó là I-xa-ác – khởi điểm cho một dòng dõi đông đúc như sao trên trời, như cát bãi biển.
 
          Như vậy, việc Thiên Chúa lập giao ước với Áp-ra-ham và long trọng ban lời hứa như một ám chỉ rằng: chính tự nơi ông, một dòng dõi hùng cường sẽ xuất hiện và dòng dõi ấy sẽ là một chuẩn bị để cho Đấng Cứu Thế xuất hiện. (x. St 15, 1-21; 17, 1-14; 22, 16-18).
 
          c -  Niềm tin của Áp-ra-ham
          Áp-ra-ham tin và với niềm tin đó, công trình cứu độ bắt đầu về phía loài người. Ông tin rằng Thiên Chúa sẽ cho dòng giống ấy đất Ca-na-an. Ông tin rằng sẽ có một dòng giống đông vô số, như sao trên trời, như cát bãi biển. Ông tin rằng Thiên Chúa sẽ ban cho mình một đứa con là khởi đầu cho một gia đình, một dân tộc. Đó không phải là một lời hứa dễ tin, nhưng rút cuộc ông đã tin, đã bỏ tất cả để thực hiện một cuộc hành trình đức tin, hướng về lời hứa ở tương lai.
 
          Áp-ra-ham yêu I-xa-ác như con ngươi trong mắt mình, bởi vì niềm hy vọng cứu độ của dòng dõi đông đúc đặt ở nơi cậu. Vậy mà khi Thiên Chúa bảo ông mang cậu con trai đi làm của lễ toàn thiêu thì ông vẫn vâng lệnh ra đi đến nơi tế lễ. Nhưng sau khi ông minh chứng niềm tin sâu xa của mình, Thiên Chúa đã trao hoàn lại cậu con trai cho ông. Chính vì điều này mà trong Tân Ước, thánh Phaolô đã giới thiệu Áp-ra-ham là cha của những kẻ tin vào Thiên Chúa (x. Rm 4). Niềm tin đó của Áp-ra-ham không chỉ được tiếp nối nơi con cháu ông, mà vẫn còn tiếp nối nơi những ai đã, đang và sẽ tin vào sự hiện hữu của Thiên Chúa.
 
3. Các Tổ phụ khác
 
          a. I-xa-ác
          Thiên Chúa đã giữ lời hứa với ông Áp-ra-ham. Ông đã sinh được người con là I-xa-ác, đứa con của lời hứa. So với cha mình, tuy I-xa-ác được mô tả bằng những nét nhợt nhạt, nhưng việc Thiên Chúa lập lại với ông những lời đã hứa là một điều quan trọng trong lịch sử cứu độ (St 26, 3). Điểm nổi bật nhất trong sự tích về I-xa-ác là việc ông trở thành của lễ hiến tế của cha mình dâng lên Thiên Chúa. Chính việc này đã khiến ông trở thành hình ảnh tuyệt vời về mọi hiến lễ sau này, trong đó phải kể đến hiến lễ của Đức Giê-su. Suy luận của A. Lapple cho chúng ta thấy: “Trong khi Áp-ra-ham xuất hiện như biểu tượng Thiên Chúa Cha, con người I-xa-ác xem ra phải đóng vai hình ảnh Đức Ki-tô” [1]. Các Giáo phụ đã so sánh hiến lễ của I-xa-ác với hiến lễ của Đức Ki-tô như sau: I-xa-ác là người con một của Áp-ra-ham, thì Đức Giê-su là người Con Một của Thiên Chúa; I-xa-ác sẵn sàng chịu chết trên một ngọn núi, thì Đức Giê-su sẵn sàng chịu chết trên núi sọ; với I-xa-ác, Thiên Chúa tha chết cho ông, thì với Đức Ki-tô, Thiên Chúa không tha chết cho Ngài.
 
           b. Gia-cóp
          Ông I-xa-ác và bà Rê-bê-ca sinh được hai người con trai là Ê-xau và Gia-cóp (St 25, 22). Tuy là con thứ, nhưng ông Gia-cóp lại được Thiên Chúa chọn và còn nhắc lại điều Ngài đã hứa với ông Áp-ra-ham (St 28, 13- 15). Thiên Chúa còn đổi tên cho ông thành Ít-ra-en, cái tên mà kể từ đó đến tận ngày nay, người Do-thái vẫn lấy để gọi quốc gia của mình.
 
          Việc ông Gia-cóp đã dùng mưu kế giả dạng Ê-xau để chiếm quyền trưởng nam xem ra có vẻ gian xảo, nhưng lại là một ví dụ cho thấy, Thiên Chúa thường vạch những đường thẳng xen kẽ những đường cong, bởi vì chương trình cứu độ sẽ tiếp tục xuyên qua Gia-cóp chứ không phải Ê-xau [1] . Gia-cóp được mô tả như một con người tồi tàn, nhưng từ khi ông trốn về phía Bắc Haran để tránh cơn giận của người anh, thì những vẻ tốt đẹp nơi ông mỗi ngày một gia tăng và đậm nét. Trình thuật sách Sáng thế có kể về việc ông khấn với Thiên Chúa và việc Thiên Chúa đã nhắc lại lời hứa với Áp-ra-ham và I-xa-ác, sau đó ông được đổi thành Ít-ra-en, cho thấy càng ngày ông càng thêm tiến đức. Hai người vợ của Gia-cóp là Ra-khel, Lê-a và hai người tớ gái của các bà đã sinh cho ông 12 người con trai mà chương trình của Thiên Chúa sẽ tiếp tục xuyên qua họ. 12 người con của Gia-cóp gồm: Với bà Lê-a, ông sinh hạ Ru-ven, Si-mê-on, Lê-vi, Giu-đa, Ít-xa-ca và Da-vơ-lun ; với bà Ra-khen, ông sinh hạ Giu-se và Ben-gia-min ; với bà Bin-ha, ông sinh hạ Đan và Nap-ta-li ; với bà Din-pa, ông sinh hạ Gat và A-se.
 
          c. Giu-se
          Ông Giu-se là người nổi bật nhất trong số các người con của Gia-cóp. Ông được cha mình quí mến hơn nên bị anh em ghen ghét và bán cho người It-ma-en đem sang Ai-cập. Khi bán Giu-se sang Ai-cập, các anh em của ông đã phạm hai tội ác: Cắt đứt tình huynh đệ và lừa dối cha già. Tuy nhiên chính trong biến cố đó, Thiên Chúa đã thực hiện chương trình của Ngài là cứu sống cả gia tộc Ít-ra-en qua khỏi nạn đói dữ dội xảy ra trong thời đó. Câu chuyện này được viết ra cốt để trình bày một chân lý rằng: trong mọi hoàn cảnh, Thiên Chúa vẫn quan phòng, chở che dân tộc mà Ngài đã kết ước với vị tổ phụ là Áp-ra-ham.
 
          Theo trình thuật Thánh Kinh, Giu-se đã giải được mộng tại đất Ai-cập (x. St 41, 12-13; 25-36), nhưng cũng có lẽ trong thời điểm đó, người Hic-xot đang nắm chính quyền trên toàn cõi Ai-cập, mà người Hic-xot cùng dòng dõi Sê-mit với người Hip-ri, nên ông được làm tới đại thần số một của vua Pha-ra-ô. Nhờ đó khi nạn đói xảy ra, gia đình tổ phụ Áp-ra-ham chạy sang Ai-cập, đã được đón tiếp và sinh sống dễ dàng. Như thế, Thiên Chúa đã biến cái xấu của con người trở thành cái tốt, điều đó nói lên những việc kỳ diệu của Thiên Chúa quan phòng (St 50, 2).
 
          Ông Giu-se qua đời, hai người con của ông là Ep-ra-im và Ma-na-xê được ông Gia-cóp nhận làm con nuôi. Còn chi tộc Lê-vi được dành riêng để lo việc tế tự. Mười chi tộc còn lại cộng với hai người con của ông Giu-se làm thành mười hai chi tộc Ít-ra-en. Sau này khi tuyển chọn các môn đệ để thiết lập Giáo Hội, Đức Giê-su cũng chọn mười hai người. Như vậy, Giáo Hội đã trở thành Ít-ra-en mới được xây dựng trên mười hai trụ cột là các tông đồ.
 
C. KẾT THÚC
 
1. Bài học áp dụng
 
          Khi đáp lại Lời Thiên Chúa, Áp-ra-ham và các Tổ phụ không chỉ làm một bước ngoặc cho cuộc đời các ngài, nhưng còn mở ra một nếp sống mới cho chúng ta, đó là tin vào Thiên Chúa. Tin vào Thiên Chúa nghĩa là hoàn toàn phó thác cho Ngài, chấp nhận mọi điều Chúa dạy và mọi lời Chúa hứa. Dù tương lai có mờ mịt, hoặc gặp cảnh gian nan thử thách, ta vẫn cứ một lòng cậy trông phó thác, mau mắn vâng lời Ngài vì biết rằng Ngài là Đấng Trung tín, “điều gì Thiên Chúa đã hứa thì Ngài có đủ quyền năng thực hiện” (Rm 4, 21). Một niềm tin như thế không làm cho con người chúng ta hèn yếu đi, nhưng trái lại, nó giúp chúng ta mỗi ngày một lớn lên không ngừng.
 
          Thực tế cho thấy, nếu không có niềm tin, chắc chắn cuộc sống sẽ trở nên vô nghĩa. Bệnh nhân sẽ chết dần chết mòn vì chính sự nghi ngờ của mình vào bác sỹ, hoặc mọi người sẽ nghi ngờ nhau dẫn tới hậu quả cắt đứt mối tương giao với nhau. Vậy chúng ta hãy noi theo tấm gương của Áp-ra-ham và các Tổ phụ, tin tưởng vào Thiên Chúa và tin tưởng vào tha nhân, bởi vì chính nơi tha nhân, Thiên Chúa đang hiện diện. Mặt khác, chúng ta cũng học nơi Thiên Chúa, trung tín giữ lời hứa của mình để khỏi tạo nên sự nghi ngờ cho người khác như ngạn ngữ có câu: “Một lần thất tín, vạn lần mất tin”.
 
2. Gợi ý cầu nguyện
 
          Lạy Chúa Giê-su, trên dòng đời ngược xuôi, chúng con không thoát khỏi những lần chao đảo, những phút ngả nghiêng, hoang mang, thất vọng. Xin cho chúng con biết noi gương các tổ phụ luôn biết vững vàng tin tưởng vào Chúa, phó thác cuộc đời cho Chúa. Xin Chúa giúp chúng con cảm nhận được Chúa đang đồng hành, nâng đỡ, chia sẻ cuộc sống và giơ tay giải thoát chúng con qua những anh chị em và qua Giáo hội của Chúa. Amen.
 
BẠN CÓ BIẾT ?
SÁCH XUẤT HÀNH
Sách Xuất Hành bàn tới 2 vấn đề chính: được giải phóng khỏi Ai-cập (chương 1 đến chương 15, 21) và giao ước tại Xi-nai (chương 19-40). Hai đề tài ấy được nối nhau bằng đề tài phụ: Cuộc hành trình trong sa mạc (15, 22 – 18,27).
 
Sau khi được Thiên Chúa tỏ cho biết tên của Ngài tại núi Xi-nai, ông Mô-sê đã dẫn dân Do-thái vừa được giải phóng tới đây. Thiên Chúa ngự đến đầy oai linh, ký kết giao ước với dân và ban lề luật Ngài cho họ. Vừa ký giao ước xong, dân chúng đã vi phạm ngay: họ thờ lạy bò vàng. Thế nhưng Thiên Chúa đã tha thứ và lặp lại những giao ước.
 
SÁCH LÊ-VI
Sách Lê-vi xen vào làm gián đoạn câu chuyện đang kể. Sách này quy định các nghi thức phụng vụ: các lễ tế, việc phong chức tư tế, những luật về sự thanh sạch và uế tạp…
 
SÁCH DÂN SỐ
Sách này thuật tiếp cuộc hành trình trong sa mạc: sau giao ước Xi-nai, người ta kiểm tra dân số để chuẩn bị lên đường. Sau khi cử hành lễ Vượt Qua lần thứ 2, họ rời núi Thánh và đi từng chặng tới Ca-đét, họ cố tiến vào đất Ca-na-an bằng phía nam, nhưng thất bại.
 
Sau ít lâu, họ chuyển hướng đi về vùng Mô-áp, đối diện với Giê-ri-khô. Dân Ma-đi-an thua. Đất họ là vùng bên kia sông Gio-đan, được chia cho các chi tộc Gát, Ru-ben và một nửa chi tộc Mơ-na-sê.
 
SÁCH ĐỆ NHỊ LUẬT (Thứ Luật)
Đây là bản luật thứ hai, gồm cả luật dân sự và luật tôn giáo. Sách này lấy lại một phần các lề luật đã được ban trong sa mạc. Sách cũng ghi lại 4 bài diễn từ lớn của Mô-sê, sứ vụ của Giô-suê, bài ca, di chúc và cái chết của Mô-sê.
 
 BAN GIÁO LÝ (Gp. Thái Bình)
Tài liệu Giáo lý Thánh Kinh do BGL Gp. Thái Bình sưu tầm và biên soạn (2008)