08/05/2018
489
GIÁO LÝ KINH THÁNH
 
  
 
BÀI 6
MÔ-SÊ VÀ BIẾN CỐ VƯỢT QUA CỦA NGƯỜI DO-THÁI
 
A. DẪN NHẬP
 
1. Thánh hoá đầu giờ
 
          (GLV tùy nghi có thể hát một bài hoặc đọc một kinh hay một lời nguyện)
          Lạy Chúa Thánh Thần, xin ban sức sống cho chúng con. Xin cho cuộc đời Ki-tô hữu của chúng con đừng rơi vào sự đơn điệu nghèo nàn, vào những lối mòn quen thuộc, nhưng xin canh tân và tái tạo chúng con mỗi ngày. Xin cho chúng con khám phá ra những chiều sâu khôn dò của Đức Ki-tô và ý nghĩa thâm thúy của Lời Chúa. Amen.
 
2. Câu chuyện minh họa “Ý muốn của Thiên Chúa
 
          Chuyện kể rằng, lần kia có một thanh niên leo lên đỉnh núi để thám hiểm. Bất thình lình, anh ta bị trượt chân và lăn xuống một vách núi rất dốc. Điều ấy có nghĩa là chết chắc, nhưng may thay, anh ta bám vào được một cành cây, cho nên không bị rơi xuống vực.
 
          Khi thấy cành cây không mấy chắc chắn sắp gãy, anh ta cầu nguyện lớn tiếng: “Lạy Chúa, nếu Chúa có ở trên cao, xin hãy đến cứu con”. Một âm thanh oang oang đáp lại: “Phải, Thiên Chúa đây”. Anh ta nài xin: “Lạy Chúa kính yêu, xin ngài giúp đỡ con”. Thiên Chúa nói: “Phải, ta sẽ giúp đỡ con, nhưng trước hết, con có tin ta không?”. Anh thanh niên cầu khẩn: “Lạy Chúa, dĩ nhiên là có, con tin Ngài”.
 
          Thiên Chúa ra lệnh: “Vậy con hãy thực hiện việc đu bám của con”. Anh ta đáp: “Vậy là sao?”. Rồi anh ta lại ngước nhìn lên núi và gào to: “Có ai khác ở trên đó không… cứu tôi!”. Cuối cùng, anh ta bị kiệt sức và rơi xuống vực trước khi các nhân viên cứu hộ đến được chỗ anh ta.
 
3. Dẫn vào bài
 
          Nội dung câu chuyện trên cho thấy, lệnh truyền của Thiên Chúa quá nhiều để cho chúng ta chấp nhận và thực hiện; vậy mà người thanh niên lại cầu nguyện một đàng, nhưng lại thực hiện theo một hướng khác. Chúng ta cầu xin, nhưng phải gắn liền với việc nỗ lực thực hiện những lời cầu xin ấy. Đó chính là cách làm của ông Mô-sê trong việc đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa-dẫn dắt dân Ít-ra-en thực hiện cuộc vượt qua của họ theo ý của Thiên Chúa.
 
4. Đọc Thánh Kinh (Xh 2, 1-10; 12, 1-8)
 
          Lời Chúa trong sách Sáng Thế.
          Có một người thuộc dòng họ Lê-vi đi lấy một người con gái cũng thuộc họ Lê-vi. Người đàn bà ấy thụ thai và sinh một con trai. Thấy đứa bé kháu khỉnh, nàng giấu nó ba tháng trời. Khi không thể giấu lâu hơn được nữa, nàng lấy một cái thúng cói, trét hắc-ín và nhựa chai, bỏ đứa bé vào, rồi đặt thúng trong đám sậy ở bờ sông Nin. Chị đứa bé đứng đàng xa để xem cho biết cái gì sẽ xảy ra cho em nó. Có nàng công chúa của Pha-ra-ô xuống tắm dưới sông, trong khi các thị nữ đi đi lại lại trên bờ. Nàng thấy chiếc thúng ở giữa đám sậy, thì sai con hầu đi lấy. Mở thúng ra, nàng thấy đứa trẻ: thì ra là một bé trai đang khóc. Nàng động lòng thương nó và nói: "Thằng này là một trong những đứa trẻ Híp-ri." Chị đứa bé thưa với công chúa của Pha-ra-ô: "Bà có muốn con đi gọi cho bà một vú nuôi người Híp-ri, để nuôi đứa bé cho bà không ?" Công chúa của Pha-ra-ô trả lời: "Cứ đi đi !" Người con gái liền đi gọi mẹ đứa bé. Công chúa của Pha-ra-ô bảo bà ấy: "Chị đem đứa bé này về nuôi cho tôi. Chính tôi sẽ trả công cho chị." Người đàn bà mang ngay đứa bé về nuôi. Khi đứa bé lớn lên, bà đưa nó đến cho công chúa của Pha-ra-ô. Nàng coi nó như con và đặt tên là Mô-sê; nàng nói: "Đó là vì ta đã vớt nó lên khỏi nước."
 
          ĐỨC CHÚA phán với ông Mô-sê và ông A-ha-ron trên đất Ai-cập: "Tháng này, các ngươi phải kể là tháng đứng đầu các tháng, tháng thứ nhất trong năm. Hãy nói với toàn thể cộng đồng Ít-ra-en : Mồng mười tháng này, ai nấy phải bắt một con chiên cho gia đình mình, mỗi nhà một con. Nếu nhà ít người, không ăn hết một con, thì chung với người hàng xóm gần nhà mình nhất, tuỳ theo số người. Các ngươi sẽ tuỳ theo sức mỗi người ăn được bao nhiêu mà chọn con chiên. Con chiên đó phải toàn vẹn, phải là con đực, không quá một tuổi. Các ngươi bắt chiên hay dê cũng được. Phải nhốt nó cho tới ngày mười bốn tháng này, rồi toàn thể đại hội cộng đồng Ít-ra-en đem sát tế vào lúc xế chiều, lấy máu bôi lên khung cửa những nhà có ăn thịt chiên. Còn thịt, sẽ ăn ngay đêm ấy, nướng lên, ăn với bánh không men và rau đắng.
          Đó là Lời Chúa.
 
B. NỘI DUNG
 
1. Ơn gọi của Mô-sê
 
          a. Được chọn từ nhỏ
          Tại Ai-cập, dòng dõi Ít-ra-en dần dà sinh sôi nảy nở ra nhiều. Các vua Ai-cập sợ họ trở nên quá mạnh, có thể gây hiểm hoạ, nên bắt đầu đàn áp và bắt họ làm nô lệ phục dịch trong các công trình xây cất của nhà vua như: xây cất kim tự tháp, xây các kho dự trữ lương thực.
 
          Đang khi dân phải chịu khổ cực như vậy, Thiên Chúa chuẩn bị cho một người đến cứu họ: đó là Mô-sê. Theo trình thuật của sách Xuất hành, Mô-sê là người gốc Ít-ra-en, thuở mới sinh bị bỏ trôi sông và được công chúa Ai-cập đón về nuôi. Ông đã được giáo dục trong triều đình Ai-cập và nhờ đó mà được chuẩn bị đầy đủ những kỹ năng của một nhà lãnh đạo và lập pháp để sau này giúp dân Ít-ra-en. Mô-sê vẫn sống bình lặng trong triều đình Ai-cập, nhưng ngày kia, một biến cố đã thay đổi hẳn đời ông. Đó là vào năm ông được 40 tuổi, Mô-sê không còn chịu nổi cảnh đồng bào ông bị áp bức, ông đã ra tay sát hại một người Ai-cập đang hành hạ người Do-thái. Vừa ra tay xong, ông biết ngay mình đã làm sai. Ông đã phải chạy thục mạng mới thoát được bàn tay săn lùng của những thám tử hoàng gia. Khi hành động như vậy, Mô-sê đã không làm theo ý Chúa, mà chỉ theo suy nghĩ của con người. Ông chưa hiểu được ý định của Thiên Chúa muốn dùng ông để giải cứu dân Ngài sau này. Nên Thiên Chúa đã tiếp tục uốn nắn ông trong một thời gian để ông trở thành một người hoàn toàn vâng phục Ngài và thực hiện công trình của Ngài chứ không phải chương trình của cá nhân ông.
 
          Khi Mô-sê chạy trốn vào sa mạc và sống tại đó, ông đã học biết cuộc sống lam lũ, nghèo nàn và tự do, đó cũng là cuộc sống của Áp-ra-ham – tổ phụ ông. Mô-sê sống giữa những người Ma-đi-an và đã nhận được nơi bố vợ ông (ông Rơ-u-ên) các truyền thống về tổ phụ Áp-ra-ham và đức tin của ông vào Thiên Chúa [1] và nhất là tại đây, ông đã gặp gỡ với Thiên Chúa. Chính trong lúc gặp được Thiên Chúa của cha ông mình, Mô-sê đã nhận ra sứ mạng của mình đối với dân Ít-ra-en.
 
          b. Sứ mạng của Mô-sê
          Thiên Chúa muốn giải thoát con cái Ít-ra-en thoát khỏi cảnh nô lệ của người Ai-cập, nên Ngài định chọn Mô-sê để làm việc đó. Ông ngần ngại vì sợ trách nhiệm quá nặng nề, nhưng Thiên Chúa hứa: Ta sẽ ở với ngươi. Phản ứng của Mô-sê là phản ứng tự nhiên của những người được Thiên Chúa chọn để giao phó một nhiệm vụ đặc biệt, như thủ lãnh Ghê-đê-ôn, tiên tri Giê-rê-mi-a, Đức Ma-ri-a... Nhưng lời chấn an mạnh nhất của Thiên Chúa bao giờ cũng là: Ta sẽ ở với ngươi. Kể từ đó, tất cả cuộc đời ông đều hướng về cuộc giải thoát dân tộc mình. Ông đã bị Thiên Chúa chiếm đoạt và sai phái đi; ông đã trở lại Ai-cập và thương lượng với vua Pha-ra-ô để dân Ít-ra-en được giải thoát. Quyền năng Thiên Chúa (được biểu lộ qua Mô-sê) đã thúc bách Pha-ra-ô sớm thực hiện cuộc phóng thích dân Do-thái. Chính nhờ sự chu toàn sứ mạng với niềm tín thác vào quyền lực của Thiên Chúa mà càng ngày ông càng tiến sâu vào mầu nhiệm của Ngài, Đấng thường đến với ông và với dân tộc ông trong mọi hoàn cảnh của cuộc đời.  
 
2.  Biến cố Vượt Qua
 
          a. Mười tai ương
          Nước biến thành máu, ếch nhái, muỗi, ruồi nhặng, ôn dịch, ung nhọt, mưa đá, châu chấu, cảnh tối tăm và cái chết của các con đầu lòng Ai-cập. Ý nghĩa thực sự của mười tai ương ở đây không phải là lịch sử mà là tôn giáo:
 
          1- Thiên Chúa can thiệp để cứu dân Do-thái bị áp bức ra khỏi ách nô lệ của người Ai-cập.
 
          2- Sự xung đột hay phân tranh giữa hai thần: Thiên Chúa và Pha-ra-ô. Pha-ra-ô cho mình là chúa của đất nước Ai-cập và chủ của dân nô lệ Ít-ra-en, cho nên ông nắm quyền sinh tử của họ trong tay. Tuy nhiên, với mười tai ương do Thiên Chúa gửi đến (chín tai ương liên quan đến đời sống của người Ai-cập và tai ương thứ mười liên quan đến ngôi vua và dòng dõi Ai-cập), Thiên Chúa đã nói cho vua Pha-ra-ô, toàn thể dân Ai-cập và dân Ít-ra-en rằng, Ngài mới thật là Thiên Chúa duy nhất. Ngài thật là Chủ tể của cả trời đất vũ trụ chứ không phải là Pha-ra-ô hay bất cứ thần nào khác.
 
          b.  Bữa tiệc Vượt Qua
          Theo nguồn gốc, lễ này là sự phối hợp hai nghi lễ cổ xưa lại làm một, bao gồm: Lễ sát chiên: trong đó các mục tử giết một con chiên mới sinh vào dịp đầu xuân, rồi họ dùng máu của nó để xua đuổi các tà thần khi họ di chuyển bộ tộc mình từ đồng cỏ này sang đồng cỏ khác. Lễ làng nông: trong đó mọi người trong làng vứt bỏ đi hết tất cả các men và hạt giống cũ để ăn mừng mùa gặt mới với hạt giống mới vào dịp đầu xuân. Chính vì thế mà đối với người Do-thái, lễ Vượt Qua chính là lễ đầu Xuân cũng tương tự như tết Nguyên đán của người Việt vậy.
 
          Với biến cố bữa ăn chiên vượt qua (Xh 12), dân Ít-ra-en theo lệnh Thiên Chúa truyền đã làm thịt một con chiên, lấy máu bôi lên cửa, rồi hối hả ăn để ra đi bất cứ lúc nào. Đêm đó Thiên Thần Chúa rảo qua các vùng Ai-cập để sát hại tất cả các con đầu lòng, kể cả súc vật của người Ai-cập. Nhưng Thiên Chúa đã “vượt qua” những nhà có máu bôi trên cửa, vì thế, dân Ít-ra-en được bình yên vô sự.
 
          Như vậy, lễ Vượt Qua của người Do-thái là nhắc lại việc Thiên Chúa, trong đêm xuất hành đã đi ngang hay vượt qua các nhà của người Do-thái mà không giết các con đầu lòng, vì có dấu máu chiên bôi trên khung cửa nhà họ. Ngược lại, chính Thiên Chúa đã sát hại mọi con đầu lòng trong đất Ai-cập, từ con đầu lòng của vua Pha-ra-ô đến con đầu lòng của mọi người Ai-cập cũng như của loài vật. Cũng trong đêm đó, chính Thiên Chúa đã hạ bệ tất cả các thần của người Ai-cập.
 
          Vì vậy, lễ Vượt qua đóng vai trò quan trọng trong lịch sử Ít-ra-en, do đó hàng năm người Do-thái vẫn cử hành Bữa Tiệc Vượt Qua. Qua biến cố này, dân Do-thái càng ý thức về tình yêu của Thiên Chúa dành cho mình. Ngài đã dủ lòng thương khi họ gặp cảnh khốn cùng và dùng cánh tay hùng mạnh của Ngài để dẫn dân ra khỏi Ai-cập.
 
          c. Qua biển Đỏ
          Theo trình thuật về Biến cố “vượt qua” biển Đỏ (x. Xh 14), nước rẽ ra cho dân Do-thái băng qua, còn toàn bộ binh lính xe cộ của người Ai-cập thì bị nước biển nhấn chìm. Đây là một phép lạ hay chỉ là một hiện tượng tự nhiên đã từng xảy ra tại vùng này? Theo một số học giả Thánh Kinh, vùng này là một vùng đầm lầy (đó là hồ Timsah, phía bắc của kênh đào Suez ngày nay). Gió đông bắc thường thổi vào lúc nước ròng làm cho vùng này trở thành nơi khô cạn trong vài giờ khoảng gần sáng, cho nên người ta có thể đi ngang qua được. Tuy nhiên khi sáng đến, ngọn gió đổi chiều vì cơn gió nồm hay gió nam thổi đến, nước lớn ào ào quay trở lại với mực nước bình thường của nó. Ở đây, người Do-thái xem biến cố đi qua Biển Đỏ như là một phép lạ từ bàn tay uy quyền của Thiên Chúa. Nước đem lại sự sống cho dân Do-thái, nhưng đồng thời lại thanh tẩy những gì là tội lỗi. Chính Thiên Chúa là vị thần duy nhất đã cứu dân Ít-ra-en ra khỏi ách nô lệ của người Ai-cập. Chính Ngài dìu dắt họ qua các hiểm nguy của hỗn loạn và diệt vong trên biển dưới bàn tay của tử thần. Rồi chính Ngài làm cho họ nên một dân tộc riêng biệt và cho họ một cuộc sống mới trong tự do và hạnh phúc. Tất cả những kỳ công mà Thiên Chúa đã làm đây hoàn toàn là một món quà nhưng không của Ngài cho họ.
 
C. KẾT THÚC
 
1. Bài học áp dụng                
 
          Điều làm cho ông Mô-sê trở thành người của Thiên Chúa không phải là sự nhiệt tình của ông hồi 40 tuổi, nhưng là sự cầu nguyện trong thinh lặng. Hoàn cảnh đã đưa đẩy ông thường xuyên phải sống cô độc một mình trong sa mạc. Suốt những năm chăn súc vật giữa trời đất bao la, nhiệt tình hoạt động của ông Mô-sê đã chuyển thành một tâm hồn chiêm niệm. Chính trong sự thinh lặng triền miên, Thiên Chúa đã uốn nắn tâm hồn ông, giúp ông bỏ chương trình riêng để vâng theo chương trình của Thiên Chúa. Ông luôn sống thân mật với Chúa và đời sống ấy đã giúp cho hoạt động của ông có kết quả, mà nhất là đã biến đổi ông nên giống Thiên Chúa, cả trong tâm hồn cũng như trên khuôn mặt. Noi gương ông Mô-sê, mỗi người trong chúng ta được mời gọi cộng tác với Thiên Chúa trong việc giải phóng chính mình khỏi sự kìm kẹp của những tính hư nết xấu. Sống thân mật với Chúa bằng đời sống cầu nguyện để qua đó, nhận ra chương trình của Thiên Chúa trên cuộc đời mình và mau mắn đáp trả. Thực tế cho thấy, nhiều khi chúng ta mải mê hành động theo những toan tính cho nên đến khi gặp thất bại, chúng ta lại đổ lỗi rằng: tại sao Chúa không thương, không quan tâm đến mình. Kết luận đó quả là một sai lầm, bởi lẽ, nếu không có được đời sống cầu nguyện và biết thinh lặng lắng nghe, chúng ta dễ gì nhận ra được tiếng Chúa.
 
          Với biến cố Vượt Qua của dân Do-thái, chúng ta được mời gọi thực hiện cuộc ra khỏi chính mình. Đó là việc từ bỏ những ý riêng, những toan tính và những ích kỷ của mình để tìm gặp gỡ Thiên Chúa và mọi người. Phải từ bỏ những lợi ích riêng, đó là một điều không dễ chút nào, nhưng nếu thực sự trong tâm hồn bạn có Chúa hiện diện, thì việc từ bỏ đó sẽ đem lại cho bạn niềm vui lớn.
 
2. Gợi ý cầu nguyện
 
          Lạy Chúa Giê-su, xin cho chúng con luôn biết chạy đến với Chúa trong mọi hoàn cảnh: dù hạnh phúc hay đau khổ. Chúng con luôn có một thái độ tín thác và kiên nhẫn. Xin soi sáng cho chúng con, để chúng con luôn xác tín rằng Chúa luôn lắng nghe và làm những điều tốt nhất cho chúng con. Xin cho chúng con luôn vui vẻ đón nhận tất cả từ Chúa trong bình an và tin tưởng phó thác. Amen.
 
BẠN CÓ BIẾT ?
 
SÁCH GIÔ-SUÊ
Sách này trình bày việc chiếm xứ Pa-let-tin, dưới sự lãnh đạo của ông Giô-suê, người kế vị Mô-sê, và việc chia lãnh thổ cho 12 chi tộc Ít-ra-en.
 
SÁCH THỦ LÃNH (THẨM PHÁN)
Sách Thủ Lãnh kể về 200 năm đầu vùng đất mới chiếm. Dân Ít-ra-en còn sống theo quy chế bộ lạc, chưa lập thành quốc gia. Họ bị quyến rũ tôn thờ các ngẫu tượng và bị các dân địa phương hoặc láng giềng áp bức. Thiên Chúa đã cho nhiều người đứng lên bênh vực họ, cứu họ khỏi kẻ thù: Ốt-ni-en, Ê-hút, Sam-ga, Đê-bô-ra và Ba-rắc, Ghê-đê-ôn và A-bi-mê-lết, Tô-la, Giai-a, Giép-tê, Íp-san, Ay-lon, Áp-đôn, Sam-son. Những người này được gọi là thẩm phán, không phải vì họ lo xử kiện, nhưng vì họ đã thi hành các phán quyết của Thiên Chúa, tức là những lần Thiên Chúa can thiệp để bênh vực dân Ngài.
 
SÁCH RÚT
Sách này kể chuyện về bà Rút. Bà là một phụ nữ gốc Mô-áp, tức là một người ngoại bang, đã lấy chồng là một người Ít-ra-en, nhưng ông  này chết sớm. Chung thành với người chồng đã khuất, bà Rút quyết định theo mẹ chồng về Pa-let-tin. Sau đó bà lập gia đình với ông Bô-a và sinh ra Ô-vét là ông nội vua Đa-vít. Tuy là một phụ nữ ngoại bang, nhưng bà Rút đã được chọn vào hàng tổ tiên của Đấng Cứu Thế.
 
SÁCH SA-MU-EN 1 VÀ 2
Hai sách Sa-mu-en lúc đầu chỉ là một, về sau người ta mới chia ra cho tiện. Sách này tường thuật lại giai đoạn đầu của vương quốc Ít-ra-en, về Sa-mu-en là vị thẩm phán cuối cùng và là ngôn sứ, về vị vua thứ nhất là Sa-un, và về những diễn tiến đưa Đa-vít lên ngôi vua.
 
SÁCH SỬ BIÊN NIÊN (KÝ SỰ 1 VÀ 2)
Sách này ghi chép sự việc theo thời gian (nên được gọi là Ký Sự hoặc là sử chép theo từng năm). Các tác giả hai sách này muốn chứng tỏ rằng khi dân Ít-ra-en trung thành với với giao ước thì Thiên Chúa bênh vực họ, và ngài đánh phạt họ khi họ lìa bỏ giao ước. Được biên soạn vào thế kỷ thứ 4 trước công nguyên, sau sách Sa-mu-en và sách Các Vua, nên các sách Sử Biên Niên bổ túc nhiều cho các sách ấy.
 
SÁCH ÉT-RA VÀ SÁCH NƠ-KHE-MI-A
Hai sách này làm thành một khối, trình bày phần tiêp theo hai sách Sử Biên Niên. Hai sách này ghi lại bút tích của ông Ét-ra và ông Nơ-khe-mi-a cùng với những văn kiện của nhà nước đế quốc thời ấy, để nói về cuộc hồi hương vào năm -538 của những người lưu đày. Họ trở về xây dựng lại đền thờ và khôi phục lại việc thờ phượng tại Giê-ru-sa-lem (Ét-ra) đồng thời tái thiết lại các tường luỹ của thành thánh (Nơ-khe-mi-a).
 
SÁCH TÔ-BI-A
Sách Tô-bi-a là một chuyện bình dân, thấm nhuần tư tưởng đạo đức Do Thái giáo. Sách kể lại những chuyện không may của ông Tô-bít và con ông là Tô-bi-a trong cảnh sống lưu đầy của người Do Thái giữa đế quốc Ba-tư rộng lớn. Câu chuyện thật tươi mát, nêu bật giá trị của lý tưởng về hôn nhân, về gia đình, của các bổn phận đạo đức như cầu nguyện, bố thí, ăn chay và bổn phận đối với người chết. Mỗi trang sách đều sáng lên lòng tin cậy vào Thiên Chúa. Cuối cùng, người công chính đã được Thiên Chúa ban thưởng.
 
 BAN GIÁO LÝ (Gp. Thái Bình)
Tài liệu Giáo lý Thánh Kinh do BGL Gp. Thái Bình sưu tầm và biên soạn (2008)