14/05/2018
309
GIÁO LÝ KINH THÁNH
 
BÀI 7
GIAO ƯỚC XI-NAI VÀ HÀNH TRÌNH TIẾN VÀO ĐẤT HỨA
 
A. DẪN NHẬP
 
1. Thánh hoá đầu giờ
 
          Lạy Chúa, giao ước Xi-nai là một giao ước vô cùng quan trọng đối với dân Do-thái, bởi vì đây không chỉ là lời giao ước suông, mà nó còn là trọng tâm của toàn thể lịch sử của dân Ít-ra-en. Xin Chúa ban Thần Khí Chúa trên chúng con để chúng con luôn biết tuân giữ giao ước của Ngài. Đặc biệt trong giờ học và chia sẻ hôm nay, xin Chúa soi dẫn lòng trí chúng con để chúng con có thể học hỏi và hiểu Lời Chúa ngày một sâu sắc hơn. Amen.
 
2. Câu chuyện minh hoạ “Giá trị con người”
 
          Một phát thanh viên nổi tiếng bắt đầu cuộc họp mặt chuyên đề có sự tham dự của hai trăm người thuộc dân nghèo. Ông ta cầm một tờ 50 đô la còn mới, giơ cao và nói: “Tôi muốn cho số tiền này, nhưng trước hết tôi phải làm một điều”. Rồi ông ta vò nhàu tờ giấy bạc và hỏi: “Ai cần số tiền này?”. Có khá nhiều cánh tay giơ lên. Ông ta bỏ tờ giấy bạc xuống dưới đất rồi lấy mũi giầy chà đạp lên. Khi ông ta cầm tờ 50 đô la lên, nó nhăn nheo và dơ bẩn.
          “Giờ đây, ai vẫn còn cần số tiền này?” - ông ta lại hỏi. Cũng lại những cánh tay lúc nãy giơ lên. Vị phát thanh viên nói: “Các bạn thân mến, tất cả các bạn vừa được học một bài học rất giá trị, dù tôi có làm gì với tờ giấy bạc, các bạn vẫn muốn có nó bởi vì nó đã không giảm giá trị. Nó vẫn có giá là 50 đô la”.
 
3. Dẫn vào bài
 
          Nhiều lần trong đời sống, chúng ta vấp ngã, lệch lạc và rơi vào bùn đất bởi những quyết định mà chúng ta thực hiện và bởi những hoàn cảnh mà chúng ta gặp trên đường đời. Chúng ta cảm thấy như thể mình không có giá trị gì. Tuy nhiên, dù điều gì đã xảy ra hoặc sẽ xảy ra với bạn, thì trong mắt của Thiên Chúa, bạn không bao giờ mất giá trị của mình, bởi vì Ngài luôn yêu thương săn sóc bạn.
 
          Cũng vậy, dân Ít-ra-en xưa được Thiên Chúa tuyển chọn và thương yêu che chở, nhưng họ vẫn có thái độ chống đối Thiên Chúa và phạm đủ thứ tội nghịch với sự thánh thiện của Ngài. Vậy mà Thiên Chúa vẫn yêu thương, lại còn ban cho họ một lề luật, để họ ý thức về sự vô giá của nhân phẩm mình. Đó chính là nội dung của bài học mà chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu hôm nay.
 
4. Đọc Thánh Kinh (Xh 24, 3- 18)
 
          Lời Chúa trong sách Xuất Hành.
          Ông Mô-sê xuống thuật lại cho dân mọi lời của ĐỨC CHÚA và mọi điều luật. Toàn dân đồng thanh đáp: "Mọi lời ĐỨC CHÚA đã phán, chúng tôi sẽ thi hành." Ông Mô-sê chép lại mọi lời của ĐỨC CHÚA. Sáng hôm sau, ông dậy sớm, lập một bàn thờ dưới chân núi và dựng mười hai trụ đá cho mười hai chi tộc Ít-ra-en. Rồi ông sai các thanh niên trong dân Ít-ra-en dâng những lễ toàn thiêu, và ngả bò làm hy lễ kỳ an tế ĐỨC CHÚA. Ông Mô-sê lấy một nửa phần máu, đổ vào những cái chậu, còn nửa kia thì rảy lên bàn thờ. Ông lấy cuốn sách giao ước đọc cho dân nghe. Họ thưa: "Tất cả những gì ĐỨC CHÚA đã phán, chúng tôi sẽ thi hành và tuân theo." Bấy giờ, ông Mô-sê lấy máu rảy lên dân và nói: "Đây là máu giao ước ĐỨC CHÚA đã lập với anh em, dựa trên những lời này." Ông Mô-sê đi lên cùng với ông A-ha-ron, Na-đáp, A-vi-hu và bảy mươi người trong hàng kỳ mục Ít-ra-en. Họ nhìn thấy Thiên Chúa của Ít-ra-en; dưới chân Người như có nền lát bằng lam ngọc, trong vắt như chính bầu trời. Người không ra tay hại những bậc vị vọng của Ít-ra-en; họ được chiêm ngưỡng Thiên Chúa, và sau đó họ ăn uống. ĐỨC CHÚA phán với ông Mô-sê: "Hãy lên núi với Ta và ở lại đó; Ta sẽ ban cho ngươi những bia đá: luật và mệnh lệnh Ta đã viết ra để dạy dỗ chúng." Ông Mô-sê đứng lên cùng với người phụ tá là ông Giô-suê, rồi ông Mô-sê lên núi của Thiên Chúa. Ông nói với các kỳ mục: "Các ông đợi chúng tôi ở đây cho đến khi chúng tôi trở lại với các ông. Đây có ông A-ha-ron và ông Khua ở với các ông. Ai có việc gì, cứ đến với hai ông ấy." Ông Mô-sê lên núi. Bấy giờ mây bao phủ núi. Vinh quang ĐỨC CHÚA ngự trên núi Xi-nai và mây bao phủ núi sáu ngày. Đến ngày thứ bảy, từ giữa đám mây, Người gọi ông Mô-sê. Vinh quang ĐỨC CHÚA xuất hiện trên đỉnh núi trông giống như ngọn lửa thiêu, trước mắt con cái Ít-ra-en. Ông Mô-sê vào giữa đám mây và đi lên núi. Ông Mô-sê ở trên núi bốn mươi ngày bốn mươi đêm.
          Đó là Lời Chúa.
 
B - NỘI DUNG
 
1- Giao ước Xi-nai
 
          a. Nội dung
          Trên hành trình tiến về đất hứa, dân Ít-ra-en đến núi Xi-nai. Tại đây, Thiên Chúa đã gọi ông Mô-sê lên núi và ban cho ông Thập Điều Giao Ước[1] (Xh 20,1-17) mà chúng ta quen gọi là Mười điều răn. Nội dung chính yếu của giao ước được ghi lại trong Xh 19- 24, bao gồm:
 
          1- Lời tựa và mở đầu: Thiên Chúa tuyên bố lý do của Giao ước. Đó là việc Ngài đã đem Ít-ra-en ra khỏi Ai-cập đến núi Xi-nai (Xh 19, 3-6; 20, 2).
 
          2 -Thập điều và các bộ luật giao ước, qui định trách nhiệm và bổn phận của Ít-ra-en đối với Thiên Chúa (qua việc phụng thờ) và đối với tha nhân (qua bác ái công bình) (x. Xh 20, 3-17; 20, 22-23).
 
          3-Bảo tồn và lưu trữ: Thập điều giao ước được khắc trên hai bia đá và được đặt trong khám gọi là Hòm bia giao ước.
 
          4-Danh sách các chứng tá thần linh, chúc lành và chúc dữ: không có trong giao ước Xi-nai. Tuy nhiên, sự hiện diện của Thiên Chúa được thể hiện qua các dấu chỉ như khói, lửa, sấm sét, tiếng tù và cùng mây đen (19, 16-19; 20, 18-20).
 
          Như vậy theo Giao ước, Thiên Chúa trở nên Cha của dân; ngược lại, họ trở nên những người con của Ngài. Để bảo chứng cho Giao ước này, ông Mô-sê đã giết bò mà tế lễ Thiên Chúa. Ông lấy phân nửa máu rẩy trên bàn thờ đại diện cho Thiên Chúa, còn nửa kia ông rẩy trên dân mà nói: “Đây là máu của Giao ước mà Thiên Chúa đã ký kết với anh em” (Xh 24, 8). Máu là biểu tượng cho sự sống. Khi rẩy máu trên bàn thờ và trên dân, thì có nghĩa là Thiên Chúa và dân Ngài cùng liên hệ sự sống với nhau. Nghi thức được kết thúc bằng bữa ăn hiệp thông trên núi thánh (x. Xh 24, 11).
 
          b. Ý nghĩa
          Thập Điều Giao ước (Xh 20,1-17) được ban trong bối cảnh dân Do-thái khi đó họ chỉ là đám dân ô hợp. Ô hợp, vì họ chưa có đường lối lãnh đạo và mục đích cụ thể. Ô hợp, vì cùng đi với họ có những người không phải là người Do-thái. Vì thế, họ ô hợp cả về tôn giáo.
 
          Chính Thập Điều Giao Ước làm cho họ trở nên một khối thống nhất, thống nhất cả về tôn giáo. Giờ đây, Thập Điều Giao Ước chính là pháp luật của họ. Thiên Chúa chính là nhà lập pháp của dân Do-thái. Thập Điều Giao Ước bao gồm những điều khoản mà Thiên Chúa đã ký với dân, làm cho họ trở thành một dân tộc. Giao ước đó chính là một cam kết tình yêu: Thiên Chúa nhận Ít-ra-en làm con của Ngài. Hiểu được như thế, ta dễ dàng nhận ra Thập Điều Giao Ước không phải là gánh nặng Thiên Chúa chất lên vai dân, mà chính là con đường, là điều kiện để con người đạt được hạnh phúc, được bảo tồn sự vô giá của nhân phẩm vì được làm con Thiên Chúa. Người Ki-tô hữu ngày nay hiểu được ý nghĩa, xuất xứ của Thập Điều Giao Ước sẽ không cảm thấy nặng nề khi thi hành các điều Giao Ước.
 
2. Hành trình tiến vào đất hứa
 
          Sau khi dân ở núi Xi-nai chừng một năm, Mô-sê lại đưa dân lên đường về Ca-na-an, đất mà Gia-vê đã hứa cho tổ phụ họ. Cuộc hành trình từ Ai Cập về đất Ca-na-an đáng lẽ chỉ 40 ngày, nhưng lại kéo dài gần 40 năm, nhằm thanh luyện dân. Việc xác định lộ trình của cuộc Xuất hành và vị trí các giai đoạn rất là khó khăn. Mặc dù trong các bản văn của Thánh Kinh, một số tên cá thể cho chúng ta thấy lộ trình qua phía Bắc, nghĩa là qua xứ người Phi-li-tinh. Đó là con đường thông thường, song song với bờ biển, ngang qua Si-lê (ngày nay là El - Kantanra), rải rác có giếng nước và được canh phòng. Nhóm chạy trốn chắc chắn là không đi con đường đó để tránh khỏi đụng độ với người Phi-li-tinh. Vì vậy, hành trình của họ phải đi là theo phía Nam. Hành trình tiến vào đất hứa của dân Do-thái được chia làm hai chặng sau:
 
          a. Từ Xi-nai đến Ca-đê
          Thoát khỏi sự khống chế của Pha-ra-ô, dân Do-thái thấy mình được tự do, nhưng lại rơi vào một lo âu không kém khi trước mắt là cả một cao nguyên Xi-nai khô cằn, biết tìm đâu ra cái ăn để sinh sống. Chính những vấn đề khó khăn của cuộc sống thường ngày đã buộc họ phải qui tụ từ cảnh lộn xộn thành một dân tộc. Họ tập trung cùng đi với nhau, cùng tìm chỗ có nước, cùng dựng lều lán, cùng chấp nhận nếp sống gian khổ, cùng giúp nhau tự vệ chống lại các đám du mục đó đây đi càn quét ức hiếp những người chạy trốn. Tuy nhiên, không vì thế mà không xảy ra những cãi vã gây chia rẽ nội bộ. Lúc đó, Mô-sê phải tìm cách bảo toàn thống nhất, lướt thắng những vụ chống đối quyền lãnh tụ của ông. Vì vậy, cần tổ chức cho tập thể xử lý các sự việc chung, nhất là khi có kiện cáo. Luật lệ phải từ từ tạo cơ sở, tổ chức việc quản lý và cắt đặt những người có trách nhiệm về các mặt sinh hoạt. Từ kinh nghiệm sống, Mô-sê đặt nền tảng cho bộ luật dựa vào niềm tin ở Đấng đã giải phóng dân tộc của Ngài. Thập Điều Giao Ước chính là hạt nhân đầu tiên của bộ luật này.
 
          Kinh nghiệm hình thành một dân tộc có quản lý như thế cũng là một chuỗi kinh nghiệm tôn giáo. Dân ngày càng thống nhất chặt chẽ với nhau thì càng tăng cường niềm tin sâu sắc vào Gia-vê. Quang cảnh hùng vĩ của Xi-nai chắc chắn đã góp phần cho kinh nghiệm tôn giáo có tính chất lạ lùng trọng đại của dân tộc Do-thái.
 
          Từ núi Xi-nai, dân đi thẳng lên phía bắc theo lối gần nhất về xứ Ca-na-an. Đến Ca-đê, Theo lệnh truyền của Thiên Chúa, Mô-sê cho người vào do thám xứ đó: “Ngươi hãy sai người đi do thám đất Ca-na-an, đất mà Ta sẽ ban cho con cái Ít-ra-en. Các ngươi sẽ sai đi mỗi chi tộc một người và tất cả phải là kỳ mục trong dân” (Ds 13, 2). Sau 40 ngày họ trở về đem theo hoa trái địa phương và nói rằng đất đó rất phì nhiêu, nhưng họ cũng cho biết là dân đất ấy rất mạnh. Nghe vậy, con cái Ít-ra-en lại nổi dậy kêu trách Mô-sê. Cũng chính vì tội này, Thiên Chúa kết án tất cả những người từ hai mươi tuổi trở lên sẽ phải sống và bỏ xác trong sa mạc, chỉ con cái họ mới được vào đất hứa. Vì thế, dân Ít-ra-en phải sống gần bốn mươi năm ở sa mạc Ca-đê, phía nam xứ Ca-na-an.
 
          b. Từ Ca-đê đến bờ sông Gio-đan
          Sau thời gian sống ở Ca-đê, Mô-sê lại đưa dân về đất hứa, nhưng không phải đi vào từ phía nam mà đi từ phía đông. Họ phải đi vòng xuống phía đông nam để tránh dân Ê-đôm, rồi từ đó đi ngược lên phía bắc (x. Ds 20).
 
          Ít-ra-en đánh chiếm được một vùng phía đông sông Gio-đan, rồi xuống đóng trại ở đồng bằng Mô-áp, tức là thung lũng ở phía đông sông Gio-đan, phía bắc Biển Chết (x. Ds 21).  Thực ra, việc tấn công và xâm chiếm đất Ca-na-an của dân tộc Ít-ra-en là cả một quá trình lâu dài. “Theo phân tích lịch sử cho thấy, đó là cả một quá trình phức tạp, không phải tất cả cùng vào qua một hướng và không phải bởi một lãnh tụ duy nhất. Một số bộ lạc có lẽ đã xâm nhập vào Ca-na-an từ mạn nam. Vài bộ lạc khác đi vòng để tiến vào từ mạn đông; ít toán khác dừng lại định cư bên kia sông Gio-đan; còn một số toán khác thì theo Giô-su-ê – người kế vị Mô-sê đã vượt sông Gio-đan và xâm nhập vào miền trung bộ Ca-na-an.”. Mặt khác, có một số bộ tộc đã đến định cư thành dân địa phương từ trước mà không di cư xuống Ai-cập, vì phần lớn dân cư Pa-lét-tin đều cùng gốc A-mô-ri như người Ít-ra-en. Có thể họ cũng ủng hộ lực lượng xâm nhập. Theo suy luận của W. Harrington thì: “… một phần đáng kể xứ này đã chẳng cần phải chiếm, đặc biệt ở miền trung. Vì vậy, nghi thức ở Si-khem (Gs 24) rất có thể là lễ sáp nhập các thành phần dân khác vào trong cơ cấu các chi tộc Ít-ra-en”
 
          Bên cạnh đó, các dữ kiện khảo cổ học nhìn nhận cách chung chung trình thuật Thánh Kinh, tuy rằng cũng nêu lên vài vấn đề nghiêm trọng: “Trong khoảng thời gian dài, người ta đã tin rằng những đào bới tại Giê-ri-khô đã mang lại nhiều bằng chứng giá trị, nhưng đến nay lại không còn phù hợp nữa. Mặt khác, người ta biết rằng, thành Hai được coi là do Giô-su-ê chiếm (xem Gs 8, 1-23) thật ra bị phá huỷ năm 2200 TCN và nơi ấy không có dân cư, vắng tanh cho mãi tới thế kỷ XII. Có thể chuyện ghi trong Gs 8 thật ra lại nhằm việc chiếm Bê-then là nơi cách đó 1800m, nhất là các cuộc đào xới lại cho thấy nơi ấy đã bị phá huỷ vào nửa sau thế kỷ XIII. Ngược lại, các trình thuật liên hệ đến việc chiếm Debir (Gs 10, 38-39); Lakish (10, 31-32); Eglon (10 34-35) và Hasor (10, 11) phù hợp với các sự kiện chứng tỏ các thành đó bị phá huỷ vào cuối thế kỷ XII”. Như vậy, các chứng tích do khảo cổ học cung cấp thật là đáng kể, nhưng những chứng tích đó không xác nhận hết mọi chi tiết của bản văn Thánh Kinh, cho nên không loại trừ sự kiện là việc chiếm đất có thể xảy ra khá phức tạp. Tuy nhiên, dù việc dân Ít-ra-en chiếm đất có phức tạp, dù cho trong trình thuật sách Giô-su-ê có giản lược hoá thực tại thì vẫn có một điều chắc chắn là: “…một cuộc xâm chiếm bằng võ lực đã xảy ra vào cuối thế kỷ XIII”.
 
          Trong thực tế, đã có những việc xâm nhập êm thắm khi họ đi kiếm cỏ cho súc vật. Một vài chỗ, họ đã liên hiệp được với các bộ lạc Ca-na-an địa phương; nhưng rồi sau đó, những đám mới đến đã đụng độ với với các thành trì đã có sẵn. Khi thắng trận, dân Chúa tin rằng đó là chiến thắng của Gia-vê; nhưng cũng có lúc họ bại trận. Cũng theo các tác giả của cuốn Đi tìm Lời Chúa trong Thánh Kinh thì “…thừa lúc Giô-su-ê kéo quân xâm nhập Ca-na-an, các bộ lạc miền Bắc đã nổi lên chống lại đám lãnh chúa Ca-na-an ở tại địa phương ấy”.
 
          Trở lại với trình thuật của sách Dân số, những chiến thắng của dân tộc Ít-ra-en tại những nơi đó đã giúp họ một lần nữa nhận ra rằng: Thiên Chúa là Đấng cứu độ của họ. Chính ở đây bắt đầu câu chuyện về ông Balaam - một phù thuỷ ở phương xa do người Mô-áp mời đến để nguyền rủa Ít-ra-en, được thêu dệt dưới hình thức một truyền thuyết. Khi dân của Thiên Chúa chọn đi trên con đường của tự do, họ phải đương đầu với nhiều nguy hiểm: kẻ thù và những sự hèn nhát của riêng họ trước những hy sinh cần thiết. Hơn nữa, có một hiểm nguy lớn hơn đang đe doạ mà họ không biết: đó là thầy phù thuỷ Balaam. Nhưng Thiên Chúa đã bảo vệ họ không những thoát khỏi kẻ thù nhân linh hữu hình, nhưng còn bảo vệ khỏi kẻ thù vô hình; đồng thời còn dùng chính miệng lưỡi của kẻ thù chúc phúc cho dân Ít-ra-en (xem Ds 23, 20-23; 24, 5-6). Ba-la-am lại còn tiên báo về vương triều Đa-vít:
          “Tôi trông thấy nó, nhưng không phải cho bây giờ, tôi ngó thấy nó, nhưng không phải gần đây; một tinh tú mọc lên từ Gia-cóp, một vương trượng dấy lên từ Ít-ra-en” (Ds 24, 17).
 
          Đến đây, nhiệm vụ của Mô-sê sắp chấm dứt. Ông đã dẫn dân từ Ai-cập đến ngưỡng cửa Đất Hứa. Giờ đây ông chia cho một số thị tộc phần đất đã chiếm được ở phía đông sông Gio-đan (xem Ds 32; Đnl 3, 12-17), ông qui định lại luật pháp cho dân và truyền lại cho Giô-su-ê quyền lãnh đạo dân (Đnl 31).
 
          Từ đồng bằng Mô-áp, Mô-sê lên đỉnh núi Nê-bô ở phía đông bắc Biển Chết và từ đó nhìn sang đất hứa, nơi ông đã ngưỡng vọng từ lâu, nhưng lại không được vào. Rồi ông từ trần. Kể từ đó, dân Ít-ra-en không bao giờ có một vị ngôn sứ như Mô-sê, người diện kiến Gia-vê (x. Đnl 34).
 
C. KẾT THÚC
 
1. Bài học áp dụng
 
          Thứ nhất, Giao ước Xi-nai là sự chuẩn bị của một giao ước mới thời Tân Ước, được ký kết và đóng ấn nhờ máu của Đức Giê-su Ki-tô. Chính Chúa Giê-su cũng khai mào Giao ước mới của Ngài bằng một bữa ăn. Vì vậy, khi tham dự thánh lễ, chúng ta lập lại giao ước mới, chúng ta ăn uống Mình và Máu Thánh Chúa, để có sự sống thần linh bổ sức trên đường về quê hương vĩnh cửu.
 
          Thứ hai, đối với người Ít-ra-en, hành trình tiến vào đất hứa là một trong những thử thách lớn nhất trong lịch sử. Đó là một thử thách về niềm tin mà đỉnh điểm của nó là những tháng năm sống vất vưởng ở Ca-đê. Tuy nhiên, chính trong những khó khăn đó mà họ đã nhận ra sự quan phòng của Thiên Chúa trong tương quan với họ là dân được tuyển chọn. Hành trình Xi-nai - Ca-đê - Gio-đan vừa là một dấu chỉ về tình yêu của Thiên Chúa; vừa là bảo chứng của một tình yêu cứu độ - Thiên Chúa, Đấng đã giải phóng dân Người khỏi ách nô lệ Ai-cập cũng sẽ cứu họ khi họ gặp nguy hiểm bị các kẻ thù tấn công. Hành trình tiến vào đất hứa của người Do-thái thật không đơn giản. Mỗi chặng đường đều có những gian nan vất vả riêng, nhưng trong mỗi khó khăn đó, Thiên Chúa luôn đồng hành và giúp đỡ họ. Đối với các Ki-tô hữu, cuộc đời chính là một cuộc Xuất hành về Thiên đàng. Trong cuộc xuất hành đó, nhiều chặng đường được xác lập không chỉ mang tính thử thách và rèn luyện; nhưng còn mang ý nghĩa là ý muốn của Thiên Chúa, để thông qua đó, Ngài tỏ lộ tình yêu cứu độ đối với mỗi người như xưa Ngài đã từng đối xử với dân Do-thái trong Hành trình tiến vào đất hứa.
 
2. Gợi ý cầu nguyện
          
Lạy Chúa, chúng con cám ơn Chúa đã hạ mình để ký kết Giao ước với loài người chúng con. Xin Chúa cũng tiếp tục nâng đỡ và đồng hành với chúng con trong mọi hoàn cảnh, biến cố của cuộc đời. Chúng con ca tụng lòng nhân từ khoan dung của Chúa đã tha thứ  và đồng hành chúng ngay cả khi chúng con lầm lỗi và vi phạm giới răn của Chúa. Xin cho chúng con biết chỗi dạy, luôn vững niềm tin tưởng vào tình thương của Chúa và tuân giữ Thập điều giao ước với tất cả lòng yêu mến và đem ra thực hành trong đời sống chúng con.
         
Qua Giao Ước Xi-nai, Máu chính là biểu tượng của sự sống, Bữa Ăn chính là bữa “chia sẻ sự sống” cho nhau, và Lời của giao ước chính là “Lời” Thiên Chúa được diễn tả qua các lề luật. Tất cả nghi lễ giao ước đó được kiện toàn trong Chúa Giê-su Ki-tô vì chính Ngài là giao ước và Ngài cũng chính là Lời Thiên Chúa nhập thể, lời của tình yêu, hòa bình và công lý, lời của hiệp nhất và ơn cứu rỗi. Xin cho chúng con biết ý thức siêng năng tham dự Thánh Lễ, tự hiến tế đời mình để thông phần vào của lễ hiến tế của Chúa Chúa Giê-su trên thập giá và trong Thánh Lễ Mi-sa mỗi ngày trên bàn thờ. Và xin cho mỗi người chúng con biết thực hành các giao ước của Chúa, đặc biệt là Lời Chúa trong cuộc sống của chúng con sau Thánh Lễ như là nhân chứng và là kiểu mẫu cho toàn thế giới noi theo. Amen.
 
BẠN CÓ BIẾT ?
 
SÁCH GIU-ĐI-THA
Sách kể lại cuộc giải cứu thành Bê-tu-li bị bao vây dưới thời vua Na-bu-cô-đô-nô-sô. Là một quả phụ trẻ đẹp, bà Giu-đi-tha đã một thân một mình tiến vào doanh trại của quân thù. Tướng Hô-lô-phe-nơ mê sắc đẹp của bà, đem bà vào lều và bị bà cắt đầu. Đây là một tiểu thuyết lịch sử ca ngợi lòng tin vào Thiên Chúa và lòng yêu nước.
 
SÁCH ÉT-TE
Sách kể lại chuyện bà Ét-te, một người phụ nữ Do Thái trẻ đẹp trong thời lưu đày được chọn làm hoàng hậu nước Ba Tư, và nhờ đó mà phá vỡ được âm mưu tiêu giệt dân Do Thái.
 
SÁCH MA-CA-BÊ 1 VÀ 2
Hai sách Ma-ca-bê không tiếp nối nhau nhưng cũng thuật lại những hồi quan trọng lịch sử dân Ít-ra-en từ nửa đầu thế kỷ thứ 2 trước công nguyên. Dưới quyền các vua Ba Tư và Hi-lạp, xứ Pa-lét-tin vẫn được hưởng tự do tôn giáo cho đến năm -167. Vào năm này, vị vua thuộc triều Sơ-lu-cô là An-ti-ô-cô IV Ê-pi-pha-nô quyết định dùng vũ lực bắt ép người Do Thái phải thờ phụng và tin tưởng như người Hy Lạp. Ông đã đặt tượng thần Giu-pi-te cả trong đền thờ Giê-ru-sa-lem. Nhiều người Do Thái thà chết chứ không bỏ đạo.
 
Tư tế Ma-ta-thi-a đã cùng với 5 người con trốn vào bưng. Một trong 5 người ấy là Giu-đa, biệt danh là Ma-ca-bê nổi bật với những cú đấm ngàn cân. Cuối cùng các vua triều Sơ-lu-cô phải bó tay trước đám du kích và quốc gia Do Thái được tái lập.
 
SÁCH GIÓP
Tác giả sách Gióp vẽ lên một nhân vật tiêu biểu để giúp ta suy nghĩ về sự đau khổ. Ông Gióp là một người tốt lành, phúc hậu. Bỗng dưng trong phút chốc ông mất hết của cải, con cái và sức khoẻ. Bạn hữu nhắc nhở ông rằng ông có phạm tội gì đó mới bị phạt như thế. Nhưng cuối cùng, ông được minh oan và được an ủi: ông được bù đắp cả về sức khoẻ và tài sản, gia đình và danh dự.
 
SÁCH THÁNH VỊNH
Đây là sưu tập các bài thơ dùng để hát trong việc thờ phượng của người Do Thái. Vua Đa-vít được coi là ông tổ của ngành Thánh Vịnh, bởi đó, nhiều Thánh Vịnh được quy cho ông, nhưng rất khó xác định Thánh Vịnh nào do ông làm ra. Rất nhiều bài được viết trong thời lưu đày và sau lưu đày.
 
Hội Thánh Công Giáo đã dùng các Thánh Vịnh làm lời cầu nguyện chính thức của mình, không sửa đổi, bởi vì những lời ấy diễn tả thái độ mà mọi người phải có trước mặt Thiên Chúa. Nhờ Đức Kitô, các Thánh Vịnh còn mang thêm ý nghĩa mới mẻ và phong phú.
 
SÁCH CHÂM NGÔN
Sách này thu góp nhiều châm ngôn nhằm dạy lẽ khôn ngoan, nghĩa là nghệ thuật ăn ở sao cho phù hợp với thánh ý Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh ở đời.
 
SÁCH GIẢNG VIÊN
Sách Giảng Viên còn gọi là sách Qohêlet (Cô-hê-lét). Tiếng này có nghĩa là “Người lên tiếng trong cộng đoàn”. Sách xuất hiện vào thế kỷ 5 trước công nguyên. Nó trình bày một suy tư khác thường về ý nghĩa đời người: tất cả đều monh manh hão huyền.
 
SÁCH DIỄM CA (HAY DIỆU CA)
Tựa đề sách có nghĩa là ca khúc đẹp nhất. Nó là một sưu tập thơ tình yêu, ca ngợi phẩm giá tình yêu nhân loại, đã được dùng là hình ảnh quan hệ yêu thương mà nhờ giao ước, Thiên Chúa đã thiết lập giữa Ngài với dân Ngài, giữa Ngài và người tín hữu, giữa Đức Kitô và Hội Thánh.
 
 BAN GIÁO LÝ (Gp. Thái Bình)
Tài liệu Giáo lý Thánh Kinh do BGL Gp. Thái Bình sưu tầm và biên soạn (2008)