20/05/2018
591
GIÁO LÝ KINH THÁNH
 
BÀI 8
VIỆC THÀNH LẬP VƯƠNG QUỐC ÍT-RA-EN VÀ VUA ĐA-VÍT
 
A. DẪN NHẬP
 
1. Thánh hóa đầu giờ
 
          Lạy Chúa, khi lãnh nhận Chúa Thánh Thần trong ngày Lễ Ngũ Tuần các Tông Đồ đã trở nên những con người hoàn toàn mới. Không bao giờ chúng con có thể khám phá hết những điều kỳ diệu mà Chúa đã dành cho chúng con. Hôm nay, chúng con cũng qui tụ nơi đây để học hỏi Lời chúa, chúng con nài xin Chúa tuôn đổ Ơn Chúa Thánh Thần xuống cho chúng con, xin ban ơn soi sáng cho chúng con thấu hiểu những điều Chúa dạy. Amen.
 
2.    Câu chuyện minh hoạ “Những người tình nguyện”
 
          Ngày xưa có một vị Giáo hoàng nhân từ. Ngài bị đau tim nặng, vì thế ngài cần được thay tim. Tin buồn này được thông báo cho đám đông trên Quảng trường Thánh Phêrô với lời kêu gọi một người tình nguyện cho tim. Để đáp lại, hầu hết những người đàn ông có mặt đều giơ tay lên.
 
          Vì có quá nhiều người tình nguyện, trong khi đó chỉ cần một người, vị Hồng Y – thư ký thông báo rằng, việc chọn lựa người tình nguyện sẽ được thực hiện bằng cách ngài thả một cái lông chim từ ban công của Đức Giáo hoàng và cái lông chim ấy rơi trúng người nào, người đó sẽ được đặc ân hiến cho Đức Giáo hoàng trái tim của mình. Cái lông chim được thả xuống, nó từ từ đong đưa trong không trung rồi xuống thấp dần.
 
          Nhưng khi nó lướt bồng bềnh trên đầu của những người tình nguyện, thì: “Phù….. phù”, họ dùng hết sức thổi nó đi chỗ khác! Cái lông chim rơi xuống đất không chạm vào một ai!!!
 
3. Dẫn vào bài
        
 Thực tế cuộc sống cho ta thấy, tuyên xưng lòng trung tín và đức tin bằng lời là chuyện dễ. Nhưng giữ được lòng trung tín và đức tin là việc thật khó vì nó đòi hỏi sự hy sinh rất lớn.
          
 
Cũng vậy, trong trình thuật Thánh Kinh, chúng ta được biết đến hai khuôn mặt khác nhau của hai vị vua tiên khởi là Sa-un và Đa-vít. Vua Sa-un thì tuyên xưng lòng trung tín và đức tin của mình bằng lời nói, nhưng trong thực hành thì lại không giữ, nên cuối cùng bị Thiên Chúa truất phế; ngược lại, vua Đa-vít không chỉ tuyên xưng bằng lời nói, nhưng bằng cả tấm lòng và cả cuộc đời của mình, cho nên được Thiên Chúa chúc phúc và thiết lập cho triều đại ấy được bền vững đến muôn đời. Đó chính là nội dung mà chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu hôm nay.
 
4. Đọc Thánh Kinh (1 Sm 16, 1 - 23)
 
          Lời Chúa trong sách Sa-mu-en quyển thứ nhất.
          ĐỨC CHÚA phán với ông Sa-mu-en: "Ngươi còn khóc thương Sa-un cho đến bao giờ, khi ta đã gạt bỏ nó, không cho làm vua cai trị Ít-ra-en nữa ? Ngươi hãy lấy dầu đổ đầy sừng và lên đường. Ta sai ngươi đến gặp Gie-sê người Bê-lem, vì Ta đã thấy trong các con trai nó một người Ta muốn đặt làm vua." Ông Sa-mu-en thưa: "Con đi thế nào được ? Vua Sa-un mà nghe biết thì vua sẽ giết con !" ĐỨC CHÚA phán: "Ngươi hãy đem theo một con bò cái tơ và hãy nói: 'Tôi tới đây là để dâng hy lễ lên ĐỨC CHÚA.' Ngươi sẽ mời Gie-sê đến dự hy lễ; phần Ta, Ta sẽ cho ngươi biết điều ngươi phải làm, và ngươi sẽ xức dầu tấn phong cho Ta kẻ Ta sẽ nói cho ngươi hay." Ông Sa-mu-en làm điều ĐỨC CHÚA đã phán ; ông đến Bê-lem và các kỳ mục trong thành run sợ ra đón ông. Họ nói: "Ông đến có phải là để đem bình an không ?" Ông trả lời: "Bình an ! Tôi tới đây là để dâng hy lễ lên ĐỨC CHÚA. Các ông hãy thanh tẩy mình và đến dự hy lễ với tôi." Ông thanh tẩy ông Gie-sê và các con trai ông ấy và mời họ đến dự hy lễ. Khi họ đến, ông thấy Ê-li-áp, ông nghĩ: "Đúng rồi ! Người ĐỨC CHÚA xức dầu tấn phong đang ở trước mặt ĐỨC CHÚA đây !" Nhưng ĐỨC CHÚA phán với ông Sa-mu-en: "Đừng xét theo hình dáng và vóc người cao lớn của nó, vì Ta đã gạt bỏ nó. Thiên Chúa không nhìn theo kiểu người phàm: người phàm chỉ thấy điều mắt thấy, còn ĐỨC CHÚA thì thấy tận đáy lòng." Ông Gie-sê gọi A-vi-na-đáp và cho cậu đi qua trước mặt Sa-mu-en, nhưng ông Sa-mu-en nói: "Cả người này, ĐỨC CHÚA cũng không chọn." Ông Gie-sê cho Sa-ma đi qua, nhưng ông Sa-mu-en nói: "Cả người này, ĐỨC CHÚA cũng không chọn." Ông Gie-sê cho bảy người con trai đi qua trước mặt ông Sa-mu-en, nhưng ông Sa-mu-en nói với ông Gie-sê: "ĐỨC CHÚA không chọn những người này." Rồi ông lại hỏi ông Gie-sê: "Các con ông có mặt đầy đủ chưa ?" Ông Gie-sê trả lời: "Còn cháu út nữa, nó đang chăn chiên." Ông Sa-mu-en liền nói với ông Gie-sê: "Xin ông cho người đi tìm nó về, chúng ta sẽ không nhập tiệc trước khi nó tới đây." Ông Gie-sê cho người đi đón cậu về. Cậu có mái tóc hung, đôi mắt đẹp và khuôn mặt xinh xắn. ĐỨC CHÚA phán với ông Sa-mu-en : "Đứng dậy, xức dầu tấn phong nó đi ! Chính nó đó !" Ông Sa-mu-en cầm lấy sừng dầu và xức cho cậu, ở giữa các anh của cậu. Thần khí ĐỨC CHÚA nhập vào Đa-vít từ ngày đó trở đi. Ông Sa-mu-en đứng dậy và đi Ra-ma. Thần khí ĐỨC CHÚA rời khỏi vua Sa-un và một thần khí xấu từ ĐỨC CHÚA đến ám vua.  Triều thần nói với vua Sa-un: "Ngài thấy đó, một thần khí xấu của Thiên Chúa ám ngài. Xin ngài truyền. Bề tôi của ngài đang ở trước mặt ngài: họ sẽ tìm một người biết gảy đàn, và khi thần khí xấu của Thiên Chúa xuống trên ngài, thì người ấy sẽ gảy đàn và ngài sẽ cảm thấy dễ chịu." Vua Sa-un nói với triều thần: "Các người hãy đi tìm cho ta một tay gảy đàn giỏi và đưa đến cho ta." Một người trong đám gia nhân thưa rằng: "Tôi biết ông Gie-sê người Bê-lem, có một người con trai biết gảy đàn. Anh ta là một dũng sĩ can đảm, một chiến binh, một người có tài ăn nói, đẹp trai, và ĐỨC CHÚA ở với anh." Vua Sa-un sai sứ giả đến với ông Gie-sê và nói với ông: "Ngươi hãy gửi cho ta Đa-vít, con ngươi, đứa chăn chiên." Ông Gie-sê bắt một con lừa, cho chở bánh, một bầu da rượu, và một con dê con, rồi sai Đa-vít, con ông, mang đến cho vua Sa-un. Đa-vít đến với vua Sa-un và chầu chực trước mặt vua. Vua thương cậu lắm và cậu trở thành người hầu cận của vua. Vua Sa-un sai người đến nói với ông Giê-sê: "Hãy để Đa-vít chầu chực trước mặt ta, vì nó được đẹp lòng ta." Như vậy, khi thần khí Thiên Chúa xuống trên vua Sa-un, thì Đa-vít cầm đàn và gảy. Bấy giờ vua Sa-un nguôi bệnh, cảm thấy dễ chịu, và thần khí xấu rời khỏi vua.
          Đó là Lời Chúa.
 
B. NỘI DUNG
 
1. Thành lập vương quốc Ít-ra-en
        
 a. Từ bộ lạc đến vương quốc
          Miền đất Thiên Chúa hứa ban cho dân Ít-ra-en nằm hai bên bờ sông Gio-đan. Cho đến cuối đời, Mô-sê mới chỉ chiếm được một phần đất phía đông (Ds 13). 40 năm trôi qua kể từ lễ Vượt qua đầu tiên, hầu hết những người Ít-ra-en lớn tuổi ra đi từ Ai-cập đều đã bỏ mình trong Sa mạc. Ông Mô-sê cũng cùng chung một số phận ấy với dân chúng. Sau khi được Thiên Chúa đưa lên một ngọn núi cao (núi Nê-bô) để nhìn thấy miền đất Ngài sắp ban cho dân, ông đã qua đời trong Sa mạc (x. Đnl 34). Sau đó, ông Giô-su-ê - một người trợ tá của ông Mô-sê được Thiên Chúa trao trách nhiệm đưa dân Ít-ra-en vào đất hứa.
          Sau khi vào đất hứa, dân Ít-ra-en chưa được tổ chức thành một nước. Suốt 200 năm, họ sống không có vua quan, chỉ một mình Thiên Chúa đích thân hướng dẫn họ. Những khi cần, Thiên Chúa đã chọn một thủ lãnh từ giữa các chi tộc, để giúp họ chống ngoại xâm và để giúp họ sống trung thành với Giao ước. Những thủ lãnh ấy thực hiện các phán quyết của Thiên Chúa nên được gọi là các thẩm phán hay các phán quan. Nổi bật nhất trong số đó là các ông Ghê-đê-ôn, Sam-son, Giép-tê… và vị thẩm phán cuối cùng là ngôn sứ Sa-mu-en, một ngôn sứ nổi bật về thái độ lắng nghe tiếng Chúa [1].
          Vào cuối thời đại các thủ lãnh, dân Ít-ra-en thấy cần phải có sự thống nhất về mặt chính trị thì mới đương đầu nổi với ngoại bang, vì thế họ xin Sa-mu-en, vị thủ lãnh cuối cùng lập cho họ một vua: đó là Sa-un. Nền quân chủ bắt đầu từ đó và sẽ kéo dài trong vòng 450 năm, cho đến khi dân bị đem đi lưu đày bên Ba-bi-lon.
 
          b. Thời các thẩm phán
          Sau khi chiếm xong Ca-na-an, mười hai chi tộc sống trong mười hai lãnh thổ của mình, nhưng cùng làm thành một quốc gia, một quốc gia không vua, chỉ hợp nhất bằng tôn giáo mà tượng trưng là khám Giao ước, đặt tại Si-lô, thuộc chi tộc Ép-ra-im (Gs 18, 1).
 
          Trong giai đoạn này, người Do-thái và người Ca-na-an vẫn sống lẫn lộn với nhau, các chi tộc độc lập về chính trị, chỉ liên minh về mặt tôn giáo. Khi có giặc ngoại xâm, các chi tộc liên minh lại, bầu ra một vị thủ lãnh để chống giặc. Thời này có hai mối nguy lớn: Về tôn giáo: vì có dân ngoại sống hỗn hợp nên nhiều người Do-thái thờ thần ngoại. Về chính trị: còn yếu nên thường bị các dân tộc xung quanh đánh phá. Thời kỳ này ít quan trọng đối với lịch sử, ngoại trừ việc Ít-ra-en đã hai lần bỏ rơi Thiên Chúa để tôn thờ ngẫu tượng là thần Ba-an và At-ta-rôt. Vì thế, Thiên Chúa đã trừng phạt họ, Ngài để cho ngoại bang xâm lăng. Nhưng Thiên Chúa từ bi đã không bỏ rơi dân đã tuyển chọn, Ngài cho xuất hiện những anh hùng mà ta gọi là Thủ lãnh (Thẩm phán) để dẹp giặc. Thánh Kinh đã ghi lại 12 Thủ lãnh sau:
 
          Sáu Thủ lãnh nhỏ: Sam-ga, Tô-la, Gia-ia, Ip-xan, Ê-lon và Ấp-đon.
          Sáu Thủ lãnh lớn: Ốt-ni-an, Ê-hút, Ba-rác, Gít-on, Gíp-ta và Sam-son
          * Gít-ôn (thắng quân Ma-đi-an). Đầu tiên Thiên Chúa gọi ông, ông thoái thác, nhưng Chúa hứa ở với ông (Tl 6,11-21). Việc tuyển lựa binh sỹ giảm từ 22.000 xuống còn 10.000, cuối cùng còn 300 mà vẫn thắng. Điều đó cho thấy sự cứu thoát là bởi quyền năng Thiên Chúa chứ không phải sức mạnh của con người (x. Tl 7,1-10).
 
          * Gíp-ta (thắng quân A-môn). Ông vướng phải lời thề oan nghiệt. Ông thề nếu chiến thắng trở về sẽ sát tế người nào mình gặp đầu tiên để dâng cho Chúa, không ngờ đó lại là con gái của mình (x. Tl 10,12). Lời thề tuy thô sơ, nhưng cũng làm nổi bật sự tuân giữ lời hứa một cách nghiêm túc cho dù phải tan nát cõi lòng.
 
          * Sam-son: Có sức mạnh vô địch, nhưng lại nhu nhược trước sắc đẹp và rượu chè, nên cuối cùng chết cách nhục nhã.
 
          Tóm lại, Thủ lãnh là những người hèn kém yếu đuối, nhưng họ được Thiên Chúa hỗ trợ, nên đã thực hiện được những việc phi thường. Điều đó cho thấy, Thiên Chúa muốn chọn sự bất toàn để làm những công việc vĩ đại miễn là đương sự để cho Thiên Chúa dẫn dắt mình.
 
          c. Khởi đầu thời quân chủ
          * Sa-mu-en: Ông sinh khoảng năm 1060 TCN lúc cha mẹ đã già (ông En-ca-na và bà An-na). Ngay từ nhỏ, ông đã được đưa vào Thánh điện để phụng sự Thiên Chúa thời tư tế Ê-li. Tại đây, vào một đêm ông đã được Thiên Chúa gọi, ông đáp lại: “Lạy Chúa, xin hãy phán dạy, tôi tớ Chúa đanglắng nghe” (1Sm 3,10).
 
          Trong vòng 20 năm từ khi Ê-li chết, Sa-mu-en là người lãnh đạo Ít-ra-en. Ông là vị thẩm phán cuối cùng và là vị ngôn sứ thứ nhất. Đời ông không hạnh phúc, vì Khám giao ước bị kẻ thù cướp mất, dân lại mất niềm tin vào Thiên Chúa.
 
* Vua Sa-un: Ít-ra-en luôn bị ngoại bang xâm lăng, họ cho rằng nguyên nhân là vì họ không có vua như những dân tộc khác. Vì thế, họ đòi Sa-mu-en phải tấn phong cho họ một vị vua. Dù Sa-mu-en không muốn, nhưng cuối cùng ông cũng đặt một người làm vua theo lời Thiên Chúa bảo (x.1Sm 8,19-22). Vị vua đầu tiên là Sa-un, thuộc chi tộc Ben-gia-min.
 
          Nếu xét về mặt chính trị thì khi có vua, các chi tộc sẽ liên minh chặt chẽ hơn, tổ chức quân đội sẽ hữu hiệu hùng cường hơn, nhưng đọc yêu cầu của dân chúng bằng cặp mắt đức tin thì quả thật yêu cầu này đã gián tiếp hạ bệ Thiên Chúa. Bởi vì, từ trước đến giờ chỉ có một mình Gia-vê Thiên Chúa là vua duy nhất trên dân Ít-ra-en. Sa-mu-en đã chọn theo đức tin nhưng sau này thì Chúa truyền dạy, nên ông vâng phục và xức dầu phong vương cho Sa-un dẫu rằng việc làm này đi ngược lại với quan điểm của ông và gây cho ông nhiều đau khổ. Là người được Thiên Chúa tuyển chọn và xức dầu để đại diện cho Ngài, nhưng Sa-un đã nghe lời dân chúng hơn nghe lời Thiên Chúa. Vì thế ông bị Thiên Chúa loại bỏ. Kể từ đó, vua Sa-un luôn âu lo buồn phiền và trở nên tiều tuỵ. Ông ghen tị với công lao của Đa-vít và tìm cách để giết hại. Nhưng cuối cùng chính cuộc đời của ông lại kết thúc cách bi thảm.
 
2. Vua Đa-vít
 
          a. Vua Đa-vít với lời hứa của Thiên Chúa
- Vua Đa-vít
          Vua Sa-un không chu toàn nghĩa vụ, Sa-mu-en đã đến Bê-lem, tại nhà ông Giê-sê thuộc chi tộc Giu-đa để sức dầu phong vương cho cậu út Đa-vít (x. 1Sm 16,1-13). “Đừng xét theo hình dáng bên ngoài. Người phàm chỉ thấy điều mắt thấy, còn Đức Chúa thì thấy tận đáy lòng” (1 Sm ).
 
          Lúc đầu Đa-vít chỉ là tuỳ tùng của vua Sa-un, sau thành sỹ quan xuất sắc. Nhưng Sa-un luôn ghen ghét với Đa-vít vì ông thành công hơn, nên ông phải trốn đi. Ngược lại, Đa-vít luôn kính trọng Sa-un, vì là người được Thiên Chúa sức dầu. Hơn nữa, Đa-vít lại là bạn thân của Gio-na-than, con trai của Sa-un, và là con rể của vua.
 
          Khoảng năm 1000 TCN, vua Sa-un chết, Đa-vít lên kế vị ngai vàng. Ông có một hành động khôn ngoan là dời đô về Giê-ru-sa-lem, một thành không thuộc chi tộc nào. Từ đây, Giê-ru-sa-lem trở thành trung tâm chính trị, tôn giáo của Ít-ra-en. Dưới triều đại của ông, Ít-ra-en đã trở thành một quốc gia hùng cường trong vùng.
 
          Câu chuyện về cuôc đời Đa-vít sẽ thiếu sót nếu bỏ qua một trọng tội mà ông đã phạm: ngoại tình với vợ của Uria là Bát-sê-va, rồi âm mưu giết Uria để cưới nàng làm vợ. Nhưng Đa-vít đã vô cùng hối hận khi bị tiên tri Na-than khiển trách, ông nói: “Tôi đã phạm tội nghịch với Gia-vê” (1 V  ). Sau đó ông trai tịnh bảy ngày đêm. Một trong những hậu quả của tội ông đã phạm là Áp-sa-lôm, một người con của ông đã nổi loạn để cướp ngôi cha, rồi bị giết. Tuy nhiên, vua Đa-vít vẫn luôn thương đứa con ngỗ nghịch này. Ông đã khóc lóc thảm thiết khi hay tin con bị giết: “Áp-sa-lôm con ơi! Áp-sa-lôm con ơi! Phải chi cha chết thay cho con” (2V 18,33). Đa-vít quả là một con người lạ thường: một cậu bé chăn cừu, một chiến sỹ anh hùng, một người si tình đến sát nhân, một thi sỹ, một đế vương, một người tội lỗi, một người biết thống hối, một người cha nhân từ, một người bạn trung tín.
 
          Tóm lại, Cuộc đời Đa-vít được đan dệt bởi ánh sáng và bóng tối. Nhưng trên hết mọi sự, Đa-vít luôn có lòng khiêm tốn và mến Chúa chân thành, vì vậy dù vấp váp, sa ngã ông vẫn được Chúa tha thứ và nâng đỡ trong cuộc đời.
 
          - Lời hứa của Thiên Chúa
          Sau khi đã chinh phục xong đất Ca-na-an, thiết lập biên giới rõ rệt, chọn Giê-ru-sa-lem làm thủ đô, vua Đa-vít nghĩ đến việc xây cất cho Thiên Chúa một đền thờ. Nhưng qua miệng ngôn sứ Na-than Thiên Chúa nói không phải Đa-vít làm cho Chúa, nhưng chính Chúa làm cho Đa-vít: “Ta sẽ làm cho ngai vàng của nó vững bền mãi mãi. Đối với nó Ta sẽ là cha, đối với Ta nó sẽ là con. Ta sẽ cho vương quyền nó vững mạnh” (x. 2Sm 7,13-16).
 
          Tại sao Đa-vít muốn xây dựng đền thờ cho Thiên Chúa? Một mặt vì lòng nhiệt thành của ông với Chúa; mặt khác, lòng dân sẽ hướng về đền thờ Thiên Chúa tại Giê-ru-sa-lem, cũng có nghĩa là họ hướng về triều đại Đa-vít. Kể từ đó, nghĩa là khi có lời sấm về Đấng Cứu Độ, trải qua bao thế hệ người Do-thái vẫn mong chờ Vị Cứu Tinh phát xuất từ dòng dõi Đa-vít.
 
          Lời sấm này thường được nhắc lại trong các sách khác của Cựu Ước, ngụ ý nói rằng: vương quốc của Đa-vít sẽ phổ quát cả về không gian và thời gian. Hơn nữa, các vua kế vị Đa-vít sẽ được gọi là con của Thiên Chúa. Điều này có nghĩa là các vua thuộc dòng dõi Đa-vít được bước vào giao ước Mô-sê và tôn giáo Mô-sê một cách độc đáo. Vị Cứu Tinh hay Đấng Cứu Độ ấy là chính Chúa Giê-su (x. Lc 1,32-33).
 
          Từ đây dân Ít-ra-en luôn hướng về triều đại và các vua thuộc dòng tộc Đa-vít, vì biết đâu vị vua này chính là Đấng Mê-si-a, hay ít ra họ cũng là trung gian làm cho Chúa Cứu Thế mau xuất hiện.
 
          Như thế với Đa-vít, chương trình cứu độ của Thiên Chúa tiến thêm một bước đầy ý nghĩa. Như Áp-ra-ham là cha của tất cả dân tộc Ít-ra-en, như Mô-sê là trung gian để Thiên Chúa ràng buộc Ngài với dân tộc này, thì Đa-vít là vị  vua Thiên Chúa chọn để thiết lập một vương quốc mà một ngày nào đó sẽ trở nên vĩnh cửu và phổ quát.
 
          b. Sau thời vua Đa-vít
          - Vua Sa-lô-môn: Ông là con trai của bà Bát-sê-va được chọn làm vua thể theo quyết định của vua Đa-vít lúc lâm chung. Lúc đầu, vua Sa-lô-môn rất khiêm tốn và đạo hạnh, nhưng sau vì say mê sắc dục nên xuống dốc (x. 1V 11,1-8). Mặt phải của ông là phát triển đất nước, xây cất đền thờ, tổ chức nghi lễ. Nhưng mặt trái của ông là thờ lạy tà thần, sưu cao thuế nặng, giữ đạo hình thức mà không có chiều sâu.
 
          Tuy nhiên, ông cũng có công là xây dựng Đền thờ nguy nga, lộng lẫy cho Thiên Chúa trong vòng 7 năm. Đền thờ dài độ 27 mét, rộng 9 mét, cao 13,5 mét, chia làm 3 phần chính: tiền đình, nơi thánh và nơi cực thánh. Khám giao ước được đặt ở giữa nơi cực thánh. Chỉ một mình vị thượng tế mới được phép vào nơi cực thánh một năm một lần vào dịp lễ đền tội. Ngoài ra, vua Sa-lô-môn cũng được mệnh danh là khôn ngoan, trong đó những lời khôn ngoan của ông đã được ghi lại trong sách Khôn ngoan và sách Thánh vịnh.
 
          - Sự phân chia vương quốc: Vua Sa-lô-môn chết, con là Rơ-kháp-am lên kế vị. Ông đã không giảm sưu thuế cho dân mà còn tăng thêm, nhất là khi dân chúng miền Bắc cho rằng chi tộc Giu-đa ở miền Nam không phải đóng thuế. Mối ganh tị Nam- Bắc có từ thời vua Đa-vít ngày càng tăng. Dưới sự lãnh đạo của Gia-róp-am (người miền Bắc thuộc chi tộc Ép-ra-im), toàn dân miền Bắc nổi lên chống lại dân miền Nam và đòi ly khai. Hậu quả là đất nước bị phân chia (khoảng năm 931): miền Nam gọi là nước Giu-đa, miền Bắc gọi là Ít-ra-en. Miền Bắc gồm 10 chi tộc, miềm Nam chỉ còn có chi tộc Giu-đa, một phần chi tộc Ben-gia-min và Si-mê-on.
 
          Để ngăn cản dân đi về Giê-ru-sa-lem, vua Gia-róp-am miền Bắc đã cho xây dựng hai đền thờ tại Đan và Bê-ten và cho thờ tượng bê vàng. Chính sự chia rẽ này là nguyên nhân làm cho vương quốc Ít-ra-en suy yếu và sau cùng dẫn tới thảm hoạ bị ngoại bang xâm chiếm và bị bắt đi lưu đày.
 
C. KẾT THÚC
 
1. Bài học áp dụng
 
          Nhìn vào dân Ít-ra-en, chúng ta thấy họ thiếu tin tưởng vào sự quan phòng của Thiên Chúa. Họ đã gián tiếp chối từ Thiên Chúa là vị vua của mình để chọn lựa một con người, nên đã bị Ngài để cho dân Phi-li-tinh quấy phá. Từ kinh ngiệm đó của dân Do-thái, mỗi người trong chúng ta được mời gọi đặt trọn niềm tin nơi Thiên Chúa, chọn Ngài là vị vua duy nhất thống trị lòng mình bằng cách khước từ những đam mê và sự quyễn rũ của sắc dục, tiền bạc hay danh vọng. Biết làm chủ bản thân trong mọi trường hợp ở mọi nơi, mọi lúc và mọi hoàn cảnh khó khăn nhất để được hưởng bình an nơi Thiên Chúa.
 
          Nhìn vào vua Đa-vít, chúng ta thấy ông là một người lãnh đạo tài ba, có đời sống thánh thiện và cầu nguyện sâu xa. Khi sa ngã, ông đã biết ăn năn trở lại. Là người lãnh đạo, ông đã cầu nguyện cho dân và nhân danh dân mình mà cầu nguyện. Ông còn làm nhiều thánh vịnh để ca tụng tình thương của Thiên Chúa. Nơi vua Đa-vít, ta học được tình bạn chân thật, lòng yêu mến quê hương dân tộc và nhất là đời sống đạo đức thâm sâu. Luôn vâng theo tiếng Chúa, biết hối cải khi lầm lỗi và chuyên chăm cầu nguyện.
 
2. Gợi ý cầu nguyện
 
          Lạy Chúa, trên bước đường theo Chúa hôm nay, nhiều lúc lòng tin của con bị chao đảo, vấp ngã, xin cho con được như Đa-vít luôn biết tin tưởng vào Chúa trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống, biết học nơi mẫu gương Đa-vít lòng nhiệt thành và quảng đại. Mặc dù Đa-vít thánh thiện nhưng cũng đã sa ngã phạm tội, xin cho con biết khôn ngoan, can đảm tránh xa những dịp tội và những cám dỗ của thế gian. Amen.
 
BẠN CÓ BIẾT ?
 
SÁCH KHÔN NGOAN
Đây là cuốn sách ra đời muộn nhất trong các sách Cựu ước, được soạn bằng tiếng Hi-lạp, vào thế kỷ thứ 1 trước công nguyên. Theo tác giả, sự khôn ngoan đích thật chỉ đến cùng Thiên Chúa, ai được nó thì có hạnh phúc, nhưng muốn có, phải cầu nguyện. Ông nhắc đến những kỳ diệu của công trình sáng tạo và của lịch sử để ca ngợi sự quan phòng sáng tạo của Thiên Chúa. Ông cũng quả quyết rằng sau khi chết, người lành sẽ được hưởng hạnh phúc vĩnh viễn với Thiên Chúa.
 
SÁCH HUẤN CA
Đây là công trình của một hiền nhân thế kỷ thứ 2 trước công nguyên, tên là “Giê-su con của Si-rắc”. Theo ông, sự khôn ngoan chính là sách luật giao ước, người khôn ngoan đích thật chính là người trung thành phụng sự luật Thiên Chúa.
 
SÁCH I-SAI-A
Một thi sĩ là I-sai-a được Thiên Chúa ban nhiệm vụ ngôn sứ vào năm -740, lúc 25 tuổi. Nhiệm vụ của ông là loan báo sự sụp đổ của Ít-ra-en và của Giu-đa; loan báo những hình phạt dành cho sự bất trung của dân. Ông thi hành sứ vụ trong 40 năm, vào thời nước Át-xi-ri đang chiếm ưu thế và thường xuyên đe doạ Ít-ra-en và Giu-đa.
 
I-sai-a là vị ngôn sứ của lòng tin. Trong những cuộc khủng hoảng của dân tộc, ông đòi hỏi mọi người chỉ tin tưởng nơi một mình Thiên Chúa.
 
Các chương 40-55 do một tác giả khác (gọi là I-sai-a thứ 2) viết trong thời lưu đày ở Ba-bi-lon, nhằm an ủi dân chúng và hướng lòng họ mong chờ ngày Thiên Chúa cứu chuộc. Phần này cũng nhấn mạnh Thiên Chúa là Thiên Chúa duy nhất, khôn ngoan và quan phòng. Trong phần này có 4 bài ca về Người Tôi Tớ Thiên Chúa, báo trước về Đức Kitô.
 
Các chương 56-66 được coi là công trình của một ngôn sứ khác nữa  (gọi là I-sai-a thứ 3).
 
SÁCH GIÊ-RÊ-MI-A
Giê-rê-mi-a là ngôn sứ ở Giê-ru-sa-lem sau I-sai-a khoảng 1 thế kỷ (năm -650). Ông đầy lòng yêu dân, nhưng ông lại là người cô độc, không được cảm thông, thường bị ngược đãi. Ông đã rao giảng, đe doạ, báo trước sự sụp đổ, cảnh cáo nhưng vô hiệu. Các vua bất tài kế tiếp nhau trên ngai vàng Đa-vít. Ông bị giới quân sự tố cáo là chủ bại, rồi bị bỏ tù. Năm -597, vua Na-bu-cô-đô-nô-sô chinh phục Giê-ru-sa-lem và bắt dân đi đày. Năm -587, dân Giê-ru-sa-lem nổi loạn, quân Ca-đê lại kéo đến chiếm thành, đốt đền thờ và bắt thêm dân đi lưu đày. Sau khi Giê-ru-sa-lem mất, Giê-rê-mi-a quyết ở lại quê nhà, nhưng sau đó, một nhóm người Do Thái chạy trốn sang Ai-cập đã lôi ông đi theo, và có lẽ ông đã chết ở Ai-cập.
 
 BAN GIÁO LÝ (Gp. Thái Bình)
Tài liệu Giáo lý Thánh Kinh do BGL Gp. Thái Bình sưu tầm và biên soạn (2008)