13/02/2018
72
Những Huấn Giáo Của Đức Gioan Phaolô II Về Đức Maria

Lời người chuyển ngữ: Đức thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II đã dành 70 bài huấn giáo để nói về Đức Maria, kéo dài từ ngày 07.09.1995 đến ngày 13.11.1997.

Những bài huấn giáo về Đức Maria sẽ chú trọng vào hai phần chính: 1/ Phần đạo lý, bàn đến chức vụ của Đức Maria trong Mầu nhiệm Nhập Thể và Nhiệm Thể (tức là Hội Thánh). 2/ Phần thực hành, sau khi ý thức vai trò của Đức Maria trong đời sống của Hội Thánh và của từng tín hữu, chúng ta cảm thấy sự cần thiết phải bắt chước các mẫu gương nhân đức và tín thác nơi tình hiền mẫu của Người.
****


 
BÀI 10: MỤC TIÊU VÀ PHƯƠNG PHÁP TRÌNH BÀY ĐẠO LÝ VỀ ĐỨC MARIA
 
1.- Trong chương 8 của Hiến chế Tín lý về Hội Thánh, Công Đồng Vaticanô II đã muốn trình bày “chức vụ của Đức Maria trong mầu nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể và Nhiệm Thể của Chúa Kitô, cũng như những nghĩa vụ của những con người đã được cứu chuộc đối với Thân Mẫu Thiên Chúa”{1}, tôi cũng muốn họa theo Công Đồng để trình bày, trong những bài huấn giáo sau đây, một toát lược căn bản đức tin của Hội Thánh về Đức Maria, tuy phải khẳng định - giống như Công Đồng - là không muốn trình bày “toàn bộ đạo lý đầy đủ” cũng như không muốn “giải quyết những vấn đề mà các nhà thần học còn đang tranh luận” (xc. HT 54) {2}.
 
Trước hết, tôi muốn trình bày “chức vụ của Đức Trinh Nữ trong mầu nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể và Nhiệm Thể”, dựa trên những dữ kiện của Kinh Thánh và truyền thống của các Tông Đồ cũng như lưu ý tới sự tiến triển đạo lý trong Giáo Hội cho tới ngày hôm nay.
 
Ngoài ra, xét vì vai trò của Đức Maria trong lịch sử cứu độ được liên kết chặt chẽ với mầu nhiệm của Đức Kitô và của Hội Thánh, cho nên tôi sẽ không bỏ qua việc quy chiếu vào hai mầu nhiệm đó, vì khi đặt đạo lý của Đức Maria vào đúng vị trí thì sẽ khám phá ra sự phong phú dồi dào của nó.
Việc tìm hiểu mầu nhiệm của Thân Mẫu Chúa Cứu Thế thật bao la và trải qua giòng lịch sử đã thu hút nhiều vị mục tử và nhiều nhà thần học. Có tác giả muốn nêu bật những khía cạnh cơ bản của Thánh mẫu học, nên đã bàn tới Đức Maria trong thiên khảo luận về Đức Kitô hoặc về Hội Thánh. Tuy nhiên, dù vẫn duy trì mối tương quan với hết tất cả mầu nhiệm đức tin, Đức Maria đáng được dành một thiên khảo luận riêng biệt, nhằm làm sáng tỏ thân thế và chức vụ của Người trong lịch sử cứu rỗi dựa trên Kinh Thánh và truyền thống Hội Thánh.
 
2.- Ngoài ra, theo hướng đi của Công Đồng, xem ra cũng cần phải trình bày “những nghĩa vụ của những người đã được cứu chuộc đối với Thân Mẫu Thiên Chúa, Thân Mẫu Đức Kitô, Mẹ của loài người, đặc biệt là của các tín hữu”.
 
Thực vậy, vai trò mà Thiên Chúa đã muốn dành cho Đức Maria trong công trình cứu chuộc đòi hỏi các Kitô hữu không những là đón tiếp và lắng nghe Mẹ, mà còn là các hành động cụ thể diễn tả ra cuộc sống những tâm tình Phúc Âm của Đấng đã đi tiên phong trước Hội Thánh về đức tin và sự thánh thiện. Như thế Đức Maria đã được dành một chỗ đứng có tác dụng đặc biệt về cách thức cầu nguyện của các tín hữu. Chính Phụng Vụ của Hội Thánh đã nhìn nhận một vị trí đặc biệt dành cho Mẹ trong việc đạo đức và trong cuộc sống của người tín hữu.
 
Cần phải nhấn mạnh rằng đạo lý về lòng tôn kính Đức Maria không phải là hậu quả của cảm tình ướt át. Mầu nhiệm Đức Maria là một chân lý mạc khải hướng tới trí năng của các tín hữu và đòi hỏi những người giữ vai trò nghiên cứu và dạy dỗ trong Giáo Hội phải có một phương pháp suy tư đạo lý không kém nghiêm túc so với phương pháp được áp dụng trong toàn bộ môn thần học.
 
Mặt khác, chính Đức Giêsu đã mời các người đương thời không nên bị lôi cuốn bởi sự phấn khởi khi trông thấy Thân Mẫu của Người: bà Maria được tuyên dương là có phúc nhất là vì đã lắng nghe Lời của Chúa và đem ra thực hành (xc. Lc 11,28).
 
Chúng ta không nên chỉ chiều theo tâm tình nhưng phải để cho ánh sáng của Chúa Thánh Thần dìu dắt khi tìm hiểu Thân Mẫu Đức Giêsu và cách Người đóng góp vào chương trình cứu độ.
 
3.- Bàn về sự chừng mực và quân bình cần duy trì trong đạo lý cũng như là trong lòng sùng kính Đức Maria, Công Đồng đã khuyên nhủ các nhà thần học và các nhà giảng thuyết Lời Chúa rằng “cần phải tránh hết mọi sự thái quá ngang trái…” (xc. HT 67).
 
Những sự thái quá này xảy ra nơi luồng “phóng đại”, khi họ muốn áp dụng cho Đức Maria những ưu phẩm của Đức Kitô và hết mọi đặc sủng của Giáo Hội {3}.
 
Không, khi trình bày về Đức Maria, cần phải duy trì sự khác biệt vô song giữa bản thể con người của Đức Maria và bản thể thiên tính của Đức Giêsu. Không thể lấy sự “tối đa” làm tiêu chuẩn cho Thánh mẫu học, bởi vì môn này phải luôn luôn quy chiếu về những gì mà mặc khải đã làm chứng về các hồng ân mà Thiên Chúa đã ban cho Đức Trinh Nữ chiếu theo sứ mạng cao cả của Người.
 
Một cách tương tự như vậy, Công Đồng cũng khuyến khích các nhà thần học và các nhà giảng thuyết hãy “tránh não trạng chật hẹp”, nghĩa là tránh cái nguy cơ “giảm thiểu” {4} được biểu lộ qua các chủ trương đạo lý hoặc chú giải Kinh Thánh hoặc những việc đạo đức; khuynh hướng này ra như là dẹp bỏ tầm quan trọng của Đức Maria trong lịch sử cứu rỗi, sự trọn đời đồng trinh và sự thánh thiện của Người.
 
Chúng ta nên luôn luôn tránh những chủ trương cực đoan bởi vì chúng ta cần phải dựa vào chân lý mặc khải, được diễn tả trong Thánh Kinh và truyền thống các thánh Tông Đồ.
 
4.- Chính Công Đồng đã cống hiến cho chúng ta một tiêu chuẩn để phân định đạo lý chân chính về Đức Maria: “trong Hội Thánh, Đức Maria chiếm một chỗ cao nhất và gần nhất với chúng ta sau Chúa Kitô” (HT 54).
 
Chỗ đứng cao nhất: chúng ta cần phải khám phá tầm quan trọng của Đức Maria trong mầu nhiệm cứu chuộc. Tuy nhiên, đó là một sứ mạng luôn luôn quy chiếu về Đức Kitô.
 
Chỗ đứng gần nhất với chúng ta: cuộc sống của chúng ta được thấm nhuần sâu đậm do mẫu gương và lời chuyển cầu của Đức Maria. Tuy nhiên, chúng ta cần phải tự vấn về phần cố gắng của chúng ta để được gần gũi với Người. Toàn thể môn sư phạm của lịch sử cứu rỗi đều mời gọi chúng ta hãy nhìn ngắm Đức Trinh Nữ. Khoa tu đức Kitô giáo ở hết mọi thời đại đều mời gọi chúng ta hãy nghĩ đến Người như một gương mẫu của việc thuận theo ý Chúa. Là khuôn mẫu của sự thánh thiện, Đức Maria dìu dắt những bước đi của các tín hữu trên con đường về thiên quốc.
 
Vì gần gũi với những biến cố trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta, Đức Maria nâng đỡ chúng ta trong lúc thử thách, phấn chấn chúng ta những lúc khó khăn, luôn luôn chỉ tỏ cho chúng ta tiêu điểm của ơn cứu rỗi đời đời. Như vậy, vai trò làm mẹ của Người càng ngày càng nổi bật: Người là Thân Mẫu của Thánh Tử Giêsu, Người là bà mẹ âu yếm, tỉnh thức đối với mỗi người chúng ta, bà mẹ mà từ Thập Giá, Chúa Cứu Chuộc đã ký thác để chúng ta đón nhận như là những người con trong đức tin.
 
Chú thích:
{1} Bố cục chương 8 của Hiến chế Ánh Sáng Muôn Dân, gồm 3 phần: I. Nhập đề (số 52-54); II.  Chức vụ Đức Maria trong kế  hoạch cứu độ (số 55-59); III. Đức Maria với Hội Thánh (số 60-68).
 
{2} Nói cách khác, những bài huấn giáo không giống như các lớp thần học! Đức Thánh Cha không muốn đi sâu vào chi tiết các vấn đề còn tranh luận. Dù vậy, cũng có thể ghi nhận rằng trong loạt bài huấn giáo này, Đức Gioan Phaolô II không chỉ dừng lại ở các tín điều liên quan đến Đức Maria (các bài: 23;  26;  37; 54), hoặc những gì đã được Huấn Quyền nhìn nhận (chẳng hạn tước hiệu Mẹ của Hội Thánh, bài 63), nhưng ngài cũng trình bày quan điểm đối với một vài vấn đề thần học, chẳng hạn: Đức Maria không hề phạm tội, dù chỉ là tội nhẹ (bài 24); Đức Maria đã trải qua cái chết trước khi được sống lại (bài 53); Người là “môi giới” theo nghĩa là hợp tác với Đức Kitô trong tư cách làm mẹ (bài 65; xc bài 48). Không thể áp dụng cho thánh Giuse đặc ân vô nhiễm nguyên tội (bài 23).
 
{3} Khuynh hướng “phóng đại” (maximalismus)  muốn gán cho Đức Maria tất cả mọi ưu phẩm như Chúa Kitô (thí dụ: trung gian của hết mọi ơn lành), hay tất cả mọi đặc sủng của Hội Thánh (thí dụ: tông đồ, tử đạo, truyền giáo).
 
{4}Khuynh hướng “giảm thiểu” (minimalismus) muốn cho Đức Maria cũng chia sẻ những khiếm khuyết giống như bao nhiêu thụ tạo khác, thí dụ những nghi nan do dự đứng trước mầu nhiệm đức tin, đời sống vợ chồng thường tình, vv.
 
Đức thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II
(Bản dịch tiếng Việt của Linh mục Giuse Phan Tấn Thành, OP.)
114.864864865135.135135135250