22/02/2018
318
Những Huấn Giáo Của Đức Gioan Phaolô II Về Đức Maria

Lời người chuyển ngữ: Đức thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II đã dành 70 bài huấn giáo để nói về Đức Maria, kéo dài từ ngày 07.09.1995 đến ngày 13.11.1997.

Tiếp tục khảo sát những đoạn Cựu Ước tiên báo về Đức Maria, lần này Đức Thánh Cha tìm hiểu đoạn văn của Isaia 7,1 (được trích dẫn ở Mt 1,23), và Mikha 5,1 (được trích dẫn ở Mt 2,6). Đó là những lời tiên báo về bà mẹ của Đấng Mêsia, và mẹ đồng trinh.

****
 
BÀI 13: LỜI TIÊN BÁO VỀ BÀ MẸ ĐẤNG MÊSIA
 
1.- Khi bàn về hình bóng của Đức Maria trong Cựu Ước, Công Đồng Vaticanô II nhắc tới bản văn nổi tiếng của Isaia (HT 55), bản văn này đã thu hút sự chú ý đặc biệt của các Kitô hữu tiên khởi: “Này đây, trinh nữ sẽ thụ thai và sinh một người con được đặt tên là Emmanuel” (Is 7,14).
 
Trong cảnh Thiên sứ truyền tin mời ông Giuse hãy đón nhận Maria làm bạn của mình, “bởi vì Người được sinh ra là do Thánh Thần”, thánh Matthêu đã gán cho bản văn nói trên một ý nghĩa hướng về Đức Kitô và về Đức Maria. Thực vậy, thánh sử chú thích rằng: “tất cả điều này xảy ra hầu ứng nghiệm điều đã được Chúa nói qua miệng ngôn sứ rằng: này đây Trinh nữ sẽ thụ thai và sinh một người con được đặt tên là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta” (Mt 1,22-23).
 
2.- Trong bản văn tiếng Hipri, lời tiên báo không có nói tới việc sinh hạ trinh khiết của Đấng Emmanuel: danh từ trong tiếng Do Thái (almah) chỉ có nghĩa là “một thiếu nữ”, chứ không hẳn là một trinh nữ. Ngoài ra, chúng ta biết rằng truyền thống Do Thái không có đề cao lý tưởng trinh khiết trọn đời, cũng không hề trình bày tư tưởng một người mẹ đồng trinh.
 
Tuy nhiên, trong bản dịch Hy Lạp, danh từ Hipri đã được dịch ra là “parthenos”, “trinh nữ”. Sự kiện này bề ngoài xem ra chỉ là một chi tiết của việc chuyển dịch, nhưng cần phải nhìn nhận rằng đây là một sự định hướng nhiệm mầu của Chúa Thánh Thần cho đoạn văn ông Isaia, nhằm chuẩn bị cho chúng ta hiểu sự sinh hạ lạ thường của Đấng Messia. Việc chuyển dịch sang từ ngữ “trinh nữ” có thể được giải thích bằng sự kiện là bản văn của Isaia đã chuẩn bị một cách trang trọng cho việc loan báo việc thụ thai như là một dấu chỉ đặc biệt của Thiên Chúa (Is 7,10-11), và gợi lên niềm trông đợi một việc thụ thai lạ kỳ. Thế nhưng chuyện một thiếu nữ thụ thai một đứa con sau khi đã giao hợp với chồng mình thì đâu phải là một sự kiện khác thường. Mặt khác, sấm ngôn không hề đả động tí nào tới một người chồng. Sự kiện này đã gợi lên nơi người dịch ra tiếng Hy Lạp sự giải thích theo chiều hướng đã nói.
 
3.- Trong văn mạch nguyên thủy, sấm ngôn Is 7,14 là lời đáp lại của Thiên Chúa đối với sự thiếu niềm tin của vua Acap. Trước mối đe dọa của quân đội đối phương xâm lăng, vua Acap đi tìm sự cứu thoát cho mình bằng cách đi tìm sự che chở nơi nhà vua Assyria. Khi khuyên nhủ nhà vua hãy đặt tín thác vào một mình Thiên Chúa, khước từ sự can thiệp đáng e ngại của nước Assyria, ngôn sứ Isaia đứng về phía Thiên Chúa để kêu gọi vua hãy tin tưởng vào quyền năng của Người: “Nhà vua hãy xin Chúa một điềm lạ”. Trước sự từ chối của nhà vua, bởi vì ông muốn đi tìm sự cứu thoát bằng các phương tiện thế trần, ngôn sứ đã tuyên bố sấm ngôn nổi tiếng như sau: “Hỡi nhà Đavít hãy nghe đây! ngươi đã quấy rầy sự kiên nhẫn của loài người chưa đủ hay sao, bây giờ ngươi lại còn muốn quấy rầy sự kiên nhẫn của Chúa ta nữa? Vì thế Thiên Chúa sẽ ban cho ngươi một dấu chỉ. Này đây người trinh nữ sẽ thụ thai và sinh một người con được đặt tên là Emmanuel” (Is 7,13-14).
 
Việc loan báo dấu chỉ Emmanuel, “Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta”, hàm ngụ rằng lời hứa Thiên Chúa hiện diện trong lịch sử sẽ được hiện thực đầy đủ trong mầu nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể.
 
4.- Khi loan báo sự sinh hạ diệu kỳ của Đấng Emmanuel, việc nhắc tới một người nữ thụ thai và sinh con đã có ý liên kết số phận người mẹ với số phận người con, - một hoàng tử mang sứ mạng thiết lập vương quốc lý tưởng, vương quốc của Đấng Mêsia- và cho thấy kế hoạch của Thiên Chúa muốn làm nổi bật vai trò của người nữ.
 
Thực vậy, dấu hiệu không chỉ áp dụng cho hài nhi mà thôi, nhưng sự thụ thai kỳ diệu được bày tỏ qua việc sinh hạ, là một biến cố đầy hy vọng làm nổi bật vai trò chính yếu của người mẹ.
 
Ngoài ra, sấm ngôn của Đấng Emmanuel cần được hiểu qua viễn tượng đã được mở ra bởi lời hứa dành cho nhà Đavít gặp thấy trong quyển II sách Samuel. Ngôn sứ Nathan đã hứa với nhà vua về hồng ân Thiên Chúa dành cho hậu duệ của ông: “Người sẽ xây một nhà cho Danh Ta và Ta sẽ cho ngôi báu nước người tồn tại mãi mãi. Ta sẽ là cha của người và người sẽ là con của Ta” (2 Sm 7,13-14).
 
Đối với dòng dõi Đavít, Thiên Chúa muốn đảm nhận vai trò của người cha; điều này được thực hiện cách trọn vẹn trong Tân Ước với việc Con Thiên Chúa nhập thể trong nhà Đavít (xc. Rm 1,3).
 
5.- Ngôn sứ Isaia, trong một đoạn văn nổi tiếng, đã nhấn mạnh tính cách khác thường của việc sinh hạ Đấng Emmanuel. Những lời đó như sau: “Một hài nhi đã sinh ra cho chúng ta, một trẻ thơ được ban cho chúng ta. Dấu hiệu của quyền bá chủ được đặt lên vai của Người; tên của Người: Cố vấn diệu kỳ, Thiên Chúa hùng mạnh, Cha vạn đại, Thái tử hòa bình” (9,5). Qua chuỗi những danh hiệu của hài nhi, ngôn sứ muốn diễn tả những đặc trưng của vương quyền của ông: cao minh, quyền thế, nhân hậu như người cha, công tác trị an.
 
Đoạn văn này không nói tới bà mẹ, nhưng việc tuyên dương người con mang lại cho nhân dân tất cả những gì mà họ trông mong ở triều đại của Đấng Mêsia, cũng được tràn sang bà mẹ đã cưu mang và sinh hạ Đấng Mêsia.
 
6.- Một sấm ngôn thời danh của ngôn sứ Mikêa cũng nói tới việc sinh hạ Đấng Emmanuel. Ngôn sứ nói như sau: “Còn ngươi, hỡi Belem Ephrata, ngươi quá nhỏ nên không đáng được kể vào số thủ phủ Giuđa; nhưng từ ngươi sẽ nảy ra Vị thống lĩnh Israel; nguồn gốc của Người đã bắt đầu từ thuở xa xưa. Vì thế Thiên Chúa sẽ đặt quyền năng của người khác nơi ngươi cho đến khi Kẻ sinh sẽ sinh” (5,1-2). Những lời này ta thấy vang lên sự trông mong một cuộc sinh hạ tràn đầy hy vọng của thời Mêsia, trong đó một lần nữa ta thấy nổi bật vai trò của bà mẹ, được nhắc tới qua biến cố trọng đại mang lại vui mừng và cứu thoát.
 
7.- Chức làm mẹ đồng trinh của Đức Maria đã được chuẩn bị một cách phổ quát hơn nữa qua hồng ân mà Chúa ban cho những người khiêm tốn khó nghèo (xc. HT 55).
 
Những người này chỉ biết đặt tin tưởng nơi Thiên Chúa, và qua thái độ của họ, họ đã nêu bật trước ý nghĩa sâu xa của sự trinh khiết của Đức Maria. Người đã khước từ sự phú quý của chức làm mẹ theo lối thường tình, và chờ mong sự phong nhiêu từ nơi Thiên Chúa.
 
Do đó, Cựu Ước không chứa đựng một lời loan báo rõ rệt về một người mẹ đồng trinh như sẽ được mặc khải trong Tân Ước. Tuy vậy, sấm ngôn của Isaia (7,14) đã chuẩn bị cho sự mặc khải mầu nhiệm này và đã được xác định qua bản dịch Hy Lạp ở Cựu Ước. Khi trích dẫn lời sấm ngôn theo bản dịch Hy Lạp, Phúc Âm của Matthêu đã công bố sự hoàn tất trọn vẹn của nó qua việc thụ thai Đức Giêsu trong cung lòng trinh khiết của Đức Maria.
 
Đức thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II
(Bản dịch tiếng Việt của Linh mục Giuse Phan Tấn Thành, OP.)