25/02/2018
379
Những Huấn Giáo Của Đức Gioan Phaolô II Về Đức Maria

Lời người chuyển ngữ: Đức thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II đã dành 70 bài huấn giáo để nói về Đức Maria, kéo dài từ ngày 07.09.1995 đến ngày 13.11.1997.

Bên cạnh những đoạn văn Cựu Ước đã được Tân Ước áp dụng cho Đức Maria, Đức Thánh Cha suy nghĩ đến những trường hợp Thiên Chúa can thiệp vào việc cho những bà mẹ son sẻ được có con, đặc biệt là vào những giai đoạn quan trọng trong lịch sử dân tộc Israel (ông Isaac, ông Giuse, ông Samson, ông Samuel). Những trường hợp này chuẩn bị sự can thiệp của Thiên Chúa cho Trinh Nữ Maria làm Mẹ Đấng Cứu Thế.

****

 
BÀI 14: CHỨC LÀM MẸ LÀ DO ƠN CHÚA
 
1.- Chức làm mẹ là một hồng ân của Thiên Chúa.
 
“Tôi đã được Chúa ban cho một con người”(St 4,1), đó là lời bà Evà thốt lên sau khi đã thụ thai Cain người con đầu lòng. Qua những lời này, sách Sáng Thế trình bày cho thấy chức làm mẹ tiên khởi trong lịch sử nhân loại như là một hồng ân và là một niền vui bắt nguồn từ lòng lân tuất của Đấng Tạo Hóa.
 
2.- Vào lúc khởi nguyên của Dân được tuyển chọn, Sách Thánh cũng mô tả cách tương tự như vậy về sự sinh hạ ông Isaac.
 
Ông Abraham không có con cái và đã cao niên. Thiên Chúa hứa cho ông một dòng tộc đông đúc như sao trên trời (xc. St 15,5). Lời hứa đó đã được vị tổ phụ đón nhận trong đức tin, mở cho con người thấy chương trình Thiên Chúa: “ông đã tin vào Thiên Chúa, và ông đã được coi là người công chính” (xc. St 15,6).
 
Lời hứa trên đây được xác nhận bằng những lời Chúa phán nhân dịp ký kết giao ước với ông Abraham: “Này đây: giao ước của Ta sẽ ở với ngươi và ngươi sẽ trở thành cha của một đoàn dân đông đúc” (St 17,4).
 
Những biến cố phi thường và nhiệm mầu đã nêu bật rằng chức làm mẹ của bà Sara là kết qủa của lòng lân tuất của Thiên Chúa, Đấng đã ban sự sống vượt quá tầm tính toán của con người: “Ta sẽ chúc phúc cho bà và Ta sẽ ban cho ngươi một người con do bà; Ta sẽ chúc phúc cho nó và nó sẽ trở thành những dân tộc; vua chúa các dân nước sẽ sinh ra bởi bà” (St 17,15-16).
 
Chức làm mẹ được trình bày như là một hồng ân của Thiên Chúa: tổ phụ Abraham và bà vợ sẽ nhận một tên mới nhằm nói lên sự thay đổi lạ thường mà Thiên Chúa tác động trong cuộc đời của họ.
 
3.- Việc ba nhân vật huyền bí, mà các Giáo phụ coi như là tiên báo Chúa Ba Ngôi đã loan báo cách cụ thể hơn cho ông Abraham sự hoàn tất lời hứa: “Chúa hiện tới ông Abraham tại Mambrê, khi ông ta ngồi ở cửa lều vào giờ nóng nhất trong ngày. Ông ta ngước mắt nhìn và ông thấy ba người đứng trước mặt ông” (St 18,1-2).
 
Ông Abraham liền hỏi: “Một người đã trăm tuổi còn có thể sinh con được không? Bà Sara 90 tuổi còn có thể sinh con được không?” (St 17,17; 18,11-13). Vị thượng khách trả lời: “Có điều gì mà Thiên Chúa không thể làm được? Vào thời đã định Ta sẽ trở lại với ngươi và bà Sara sẽ có con” (St 18,14; xc. Lc 1,37).
 
Trình thuật này cho thấy hiệu quả việc Thiên Chúa đến thăm viếng là ban cho một đôi vợ chồng son sẻ trở thành phong nhiêu. Tin vào lời hứa, ông Abraham trở thành người cha bất chấp mọi hy vọng, và “người cha trong đức tin” bởi vì do đức tin của ông “truyền thụ” đức tin của dân tuyển chọn.

4.- Kinh Thánh còn thuật lại nhiều trình thuật về những người phụ nữ đã được cứu thoát khỏi cảnh son sẻ và được Chúa ban cho niềm vui làm mẹ. Đó là những hoàn cảnh bứt rứt mà sự can thiệp của Chúa biến đổi thành những dịp hân hoan khi Người chấp nhận lời cầu nguyện thống thiết của những kẻ đã hết hy vọng nếu xét theo sự tính toán loài người. Chẳng hạn như bà Rakhel, “thấy rằng mình không thể nào sinh con cho ông Giacóp được, bà trở thành ghen tương với bà chị Lia và nói với ông Giacóp rằng: hãy cho tôi con cái, nếu không thì tôi chết mất! Ông Giacóp tức giận và nói: phải chăng ta có quyền như Chúa, Đấng đã khước từ hoa trái của lòng bà hay sao?” (St 30,1-2).
 
Tuy nhiên liền đó bản văn Kinh Thánh thêm rằng “Thiên Chúa nhớ lại bà Rakhel; Thiên Chúa nhận lời bà và ban cho bà có con. Bà đã thụ thai và sinh ra một người con” (St 30,22-23). Người con đó, ông Giuse, đã thi hành một chức vụ rất quan trọng đối với Dân Israel vào lúc di cư sang nước Ai cập.
 
Trong trình thuật vừa rồi cũng như trong trình thuật khác, khi nêu bật điều kiện son sẻ của người phụ nữ, Kinh Thánh muốn nêu bật sự can thiệp kỳ diệu của Thiên Chúa trong những hoàn cảnh đặc biệt, nhưng đồng thời cũng cho thấy chiều kích ơn huệ trong hết mọi trường hợp làm mẹ.
 
5.- Điều tương tự cũng xảy ra trong trình thuật về việc sinh ông Samson. Bà vợ của ông Manoac chưa bao giờ có thể sinh con, thì đã nhận được lời loan báo của thiên sứ như thế này: “Kìa, bà son sẻ và không con, nhưng bà sẽ thụ thai và sinh một người con” (Tl 13,3). Việc thụ thai bất ngờ và lạ lùng đã loan báo những kỳ công mà Chúa sẽ thực hiện qua ông Samson.
 
Trong trường hợp bà Anna mẹ của ông Samuel, vai trò đặc biệt của sự cầu nguyện đã được nhấn mạnh. Bà Anna sống trong sự tủi nhục vì son sẻ, nhưng bà luôn luôn đặt niềm tin vào Thiên Chúa; bà liên lỉ cầu khẩn xin Chúa giúp bà vượt qua cơn thử thách. Một ngày kia, khi lên Đền thờ bà đã khấn hứa: “Lạy Chúa các cơ binh, nếu Chúa không quên người nữ tì này và nếu Chúa ban cho nữ tì một người con trai, thì con sẽ dâng cho Chúa hết mọi ngày đời nó” (1 Sm 1,11).
 
Lời cầu của bà đã được chấp nhận: “Thiên Chúa nhớ tới bà và bà thụ thai sinh một người con trai đặt tên là Samuel” (1 Sm 1,19-20).
 
Thực hiện lời khấn, bà Anna đã dâng con cho Thiên Chúa: “vì đứa con này mà con đã khẩn cầu và Thiên Chúa đã ban cho con hồng ân mà con xin. Vì thế con cũng xin dâng lại cho Chúa: nó sẽ được nhượng lại cho Chúa trong hết mọi ngày đời nó” (1 Sm 1,27-28). Bé Samuel được Chúa ban cho bà Anna và rồi bà Anna đã dâng lại cho Chúa, và người thiếu niên đó đã trở thành mối dây liên kết khắng khít giữa bà Anna với Thiên Chúa.
 
Do đó, việc sinh hạ bé Samuel trở thành kinh nghiệm của niềm hân hoan và cơ hội để tạ ơn. Sách 1 Samuel còn thuật lại một thánh thi, được gọi là “Magnificat” của bà Anna, và xem ra đã đi trước kinh Magnificat của Đức Maria: “tâm hồn tôi hớn hở trong Thiên Chúa, nhờ ơn Chúa mà trán tôi ngẩng lên ” (1 Sm 2,1).
 
Hồng ân làm mẹ được Thiên Chúa ban cho bà Anna, do lời cầu nguyện liên lỉ của bà, đã gợi lên nơi bà một lòng quảng đại mới. Việc dâng hiến Samuel chính là sự đền đáp biết ơn của một người mẹ, khi thấy rằng người con của mình là hoa trái của lòng Chúa lân tuất của Chúa; bà đã đáp lại hồng ân bằng cách ký thác người con thân yêu của mình cho Chúa.
 
6.- Khi thuật lại những cảnh làm mẹ khác thường được nhắc trên đây, chúng ta thấy rằng Kinh Thánh đã trao cho các bà mẹ một chỗ đứng quan trọng nơi sứ mạng của con mình. Trong trường hợp Samuel, bà Anna đã giữ một vai trò quyết định khi dâng hiến con mình cho Chúa. Một sứ mạng cũng quan trọng như vậy đã được thực hiện do một bà mẹ khác, bà Rêbecca, khi đi tìm kẻ kế nghiệp cho ông Giacóp (St 27). Trong sự can thiệp của bà mẹ chúng ta thấy dấu hiệu của một việc Chúa tuyển chọn làm dụng cụ cho chương trình của Người.
 
Chính Chúa đã chọn đứa em, ông Giacóp, như là người chuyển ban lời chúc phúc và gia tài của người cha, và như thế ông được chọn làm người chăn dắt và hướng dẫn dân mình. Chính Thiên Chúa là Đấng khoan dung và thượng trí đã ấn định và điều khiển vận mạng của từng người (Kn 10, 10-12).
 
Sứ điệp Kinh Thánh về chức làm mẹ cho chúng ta thấy rất nhiều khía cạnh quan trọng vẫn còn giá trị cho đến ngày hôm nay: thực vậy, nó làm nêu bật tính cách ân huệ, được bày tỏ cách riêng trong trường hợp những bà son sẻ; giao ước đặc biệt giữa Thiên Chúa với người phụ nữ và mối dây liên kết giữa số phận của người mẹ và số phận của người con.
 
Đồng thời sự can thiệp của Thiên Chúa, vào những giai đoạn quan trọng của lịch sử Dân Người, đã ban cho những bà mẹ son sẻ được có con, đã chuẩn bị đức tin cho sự can thiệp của Thiên Chúa vào thời kỳ viên mãn, để làm cho một Trinh Nữ mang thai để thực hiện việc Con Chúa Nhập Thể.
 
Đức thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II
(Bản dịch tiếng Việt của Linh mục Giuse Phan Tấn Thành, OP.)