06/03/2018
357
Những Huấn Giáo Của Đức Gioan Phaolô II Về Đức Maria

Lời người chuyển ngữ: Đức thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II đã dành 70 bài huấn giáo để nói về Đức Maria, kéo dài từ ngày 07.09.1995 đến ngày 13.11.1997.

Theo các nhà chú giải, Tân Ước đã áp dụng cho Đức Maria nhiều tư tưởng mà các ngôn sứ dành cho “thiếu nữ Sion”. Đây là một biểu tượng của dân Israel được phục hưng, trông chờ Đấng Mêsia để tái lập giao ước tình yêu vĩnh cửu. Trong bài hôm nay, Đức Thánh Cha trình bày ý nghĩa của từ ngữ “thiếu nữ Sion”. Trong bài tới, ngài sẽ giải thích việc áp dụng vào Đức Maria.
****

 
BÀI 17: THIẾU NỮ SION
 
1.- Kinh Thánh thường dùng từ ngữ “thiếu nữ Sion {1}, để ám chỉ dân cư thành phố Giêrusalem, nơi mà núi Sion là địa điểm quan trọng hơn cả xét về lịch sử và tôn giáo (xc. Mk 4,10-13; Xp 3,14-18; Gr 2,14; 9,9-10).
 
Sự diễn tả một thành phố bằng hình ảnh một thiếu nữ làm cho dễ hiểu việc giải thích mối tình Thiên Chúa và Israel qua những quan hệ hôn nhân, thường được mô tả qua các hạn từ: “kẻ đính hôn” hay “hiền thê”.
 
Lịch sử cứu rỗi là lịch sử tình yêu về phía Thiên Chúa, nhưng thường cũng là lịch sử bất trung về phía loài người. Lời Chúa thường khiển trách dân-hiền thê đã bẻ gãy hôn ước mà Chúa đã thiết lập: “Ví như một người vợ đã bất trung với chồng mình, thì các ngươi, hỡi nhà Israel, các ngươi đã bất trung với Ta cũng thế” (Gr 3,20); và Lời Chúa mời con cái Israel hãy tố giác bà mẹ của mình: “Hãy tố giác bà mẹ các ngươi, hãy tố cáo bà ta đi, bởi vì bà không còn là vợ của Ta nữa và Ta không còn là chồng của nó nữa!” (Hs 2,4).
 
Tội bất trung của Israel, “hiền thê” của Gia-vê, nằm ở chỗ nào? Tội nặng nhất ở chỗ thờ lạy tà thần ngẫu tượng: theo Sách Thánh, đối với Chúa việc dân ưu tuyển đi thờ tà thần ngẫu tượng thì giống như tội ngoại tình.
 
2.- Ngôn sứ Hôsê là người đã khai triển, bằng những hình ảnh rất là mạnh mẽ và bi thảm, đề tài về giao ước hôn nhân giữa Thiên Chúa với dân Người và sự phản bội của họ: cuộc đời bản thân của ông trở thành biểu tượng hùng hồn của sự phản bội đó. Thực vậy, khi đứa con được sinh ra, ông ta đã nhận được lệnh như sau: “Hãy gọi nó là đứa-không-được-yêu, bởi vì Ta không còn yêu thương nhà Israel nữa, Ta không còn thương xót nó nữa”, và Chúa còn thêm: “Hãy kêu nó Không-phải-Dân-Ta bởi vì các ngươi không phải là Dân Ta và Ta không còn đoái hoài đến các ngươi nữa” (Hs 1,6.9).
 
Lời khiển trách của Chúa và kinh nghiệm chua chát của việc chạy theo ngẫu tượng đã làm cho người vợ bất trung phải hối hận và bà đã thốt lên: “Tôi sẽ trở về với chồng cũ, bởi vì hồi đó tôi được hạnh phúc hơn bây giờ” (Hs 2,9). Nhưng chính Thiên Chúa đã ước ao tái lập lại giao ước, và lúc ấy Lời Chúa nhắc nhớ lại lòng lân tuất và âu yếm: “vì thế này đây Ta sẽ lôi kéo nó lại, Ta sẽ mang nó vào sa mạc và thỏ thẻ vào tim nó” (Hs 2,16). Thực vậy sa mạc là nơi mà Thiên Chúa, sau khi đã giải thoát dân tộc khỏi cảnh nô lệ, đã thiết lập giao ước vĩnh viễn với Dân của mình.
 
Qua những hình ảnh yêu đương vừa nói, diễn tả mối quan hệ trắc trở giữa Thiên Chúa và Israel, ngôn sứ cho thấy cảnh bi đát của tội lỗi, sự bất hạnh của con đường bất trung, và những nỗ lực của tình yêu Chúa để thủ thỉ vào trái tim con người và đưa nó trở về với giao ước.
 
3.- Bất chấp những khó khăn trong hiện tại, Thiên Chúa, qua miệng ngôn sứ, loan báo một giao ước hoàn hảo hơn trong tương lai: “Vào ngày ấy - sấm ngôn của Chúa - ngươi sẽ kêu Ta: Chồng tôi chứ không còn gọi: Ông chủ tôi nữa... Ta sẽ đặt ngươi làm vợ của Ta mãi mãi, Ta sẽ đặt ngươi thành vợ của Ta trong công chính và luật pháp, trong tình yêu lân tuất, Ta sẽ đính ước với ngươi trong tình chung thủy và ngươi sẽ nhận biết Chúa của ngươi” (Hs 2,18.21-21).
 
Thiên Chúa đã không nản lòng trước những yếu đuối của con người, nhưng Người đã đáp lại những bất trung của con người bằng cách đề nghị một cuộc kết hợp bền chặt hơn: “Ta sẽ gieo hạt giống mới và Ta sẽ yêu kẻ-không-được-yêu: và với đứa đã mang tên là Không-phải-Dân-Ta, Ta sẽ gọi nó là Dân-Ta, và nó sẽ thưa lên: Chúa của tôi” (Hs 2,25).
 
Viễn tượng một giao ước mới cũng được ngôn sứ Giêrêmia trình bày cho dân chúng đang bị lưu đày: “Vào ngày ấy - sấm ngôn của Chúa - Ta sẽ là Thiên Chúa của hết mọi chi tộc Israel và chúng sẽ là dân của Ta”. Đây là Lời Chúa: “Ta đã tỏ lòng ưu ái trong sa mạc đối với một dân được thoát lưỡi gươm; Israel hướng tới một nơi an cư lạc nghiệp”. Chúa đã hiện ra từ xa xa với họ: “Ta đã yêu ngươi với tình yêu muôn thuở, chính vì thế mà Ta luôn tỏ lòng thương xót ngươi. Ta sẽ tạo dựng ngươi một lần nữa và ngươi sẽ được tái dựng, hỡi người trinh nữ Israel” (Gr 31,1-4).
 
Bất chấp những bất trung của dân, tình yêu muôn thưở của Thiên Chúa luôn luôn sẵn sàng tái lập giao ước tình yêu và ban ơn cứu thoát vượt lên trên mọi sự mong đợi.
 
4.- Ngôn sứ Ezekiel và Isaia cũng nói tới hình ảnh của một người vợ bất trung được tha thứ.
 
Qua miệng ông Ezekiel, Chúa đã nói với người vợ như sau: “Ta sẽ nhớ tới giao ước đã ký kết với ngươi lúc thanh xuân và Ta sẽ lập với ngươi một giao ước vĩnh viễn” (Ed 16,60).
 
Sách Isaia đã ghi lại một sấm ngôn rất là tình tứ: “Hôn phu của ngươi là Đấng Tạo thành ngươi... Ta đã bỏ rơi ngươi trong giây lát, nhưng Ta đã lấy lại ngươi trong tình yêu vô bờ bến. Trong cơn nóng giận Ta đã ẩn mặt đi một lát: nhưng với tình yêu vĩnh viễn Ta lại thương xót ngươi, đó là Đức Chúa, Đấng Cứu Chuộc ngươi, nói như vậy” (Is 54,5.7-8).
 
Lời hứa với thiếu nữ Sion là một tình yêu mới và chung thủy, một niềm hy vọng bao la vượt xa việc bỏ rơi bà vợ bất trung: “Hãy nói với thiếu nữ Sion: này đây, Đấng cứu thoát ngươi đang tới, Người mang theo phần thưởng với mình, và thành tích đi ngay trước mặt. Người ta sẽ kêu họ là dân thánh được Thiên Chúa cứu chuộc. Ngươi sẽ được gọi là Kẻ được tìm kiếm, Thành không bị bỏ rơi” (Is 62,11-12).
 
Ngôn sứ xác định thêm: “Không ai còn kêu ngươi là Kẻ bị bỏ rơi, không ai gọi đất của ngươi là Đất hoang tàn, nhưng ngươi sẽ được gọi là Đấng Ta yêu dấu. Và đất của ngươi được gọi là Hiền thê, bởi vì Thiên Chúa thương xót ngươi và đất của ngươi sẽ có một vị hôn phu. Thực vậy, cũng như một thanh niên kết hôn với một trinh nữ, thì ngươi cũng sẽ kết hôn với chủ tể của ngươi; cũng như hôn phu vui mừng vì hôn thê, thì Thiên Chúa của ngươi cũng vui mừng vì ngươi” (Is 62,4-5).
 
Những hình ảnh và những cử chỉ âu yếm đó được sách Diễm Ca đã tóm kết qua lời như sau: “Ta thuộc về người yêu của Ta và người yêu thuộc về Ta” (Dc 6,3). Và như thế, mối tương quan giữa Giavê và dân Người đã được trình bày lại một cách hết sức lý tưởng.
 
Khi nghe đọc những sấm ngôn của các ngôn sứ, chắc hẳn Đức Maria đã nhìn tới viễn tượng đó và đã nuôi dưỡng trong tâm hồn niềm hy vọng vào thời Mêsia.
 
Những lời than trách dân tộc bất trung chắc hẳn đã gợi lên trong Người sự cam kết nồng nhiệt sẽ trung thành với giao ước, mở rộng tinh thần của Người tới đề nghị thông hiệp bền bỉ với Chúa mình trong ân sủng và tình yêu. Chính qua giao ước đó mà ơn cứu rỗi đã được ban cho toàn thể thế giới.

Chú thích:
{1} Cũng có người dịch là: “cô gái Sion” hoặc “con gái Sion”.
 
 
Đức thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II
(Bản dịch tiếng Việt của Linh mục Giuse Phan Tấn Thành, OP.)