18/03/2018
177
Những Huấn Giáo Của Đức Gioan Phaolô II Về Đức Maria

Lời người chuyển ngữ: Đức thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II đã dành 70 bài huấn giáo để nói về Đức Maria, kéo dài từ ngày 07.09.1995 đến ngày 13.11.1997.

Bài huấn giáo hôm nay xét tới nền tảng Kinh Thánh của chân lý Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội, qua việc khảo sát vài đoạn văn cổ điển: 1/ Lc 1,28: Đức Maria được thiên sứ gọi tên là “Đầy tràn ơn phúc”. 2/ St 3,15: mối thù truyền kiếp giữa người nữ đòi hỏi Đức Maria không hề ở dưới quyền hành của ma qủy. 3/ Kh 12,1: người nữ khoác áo mặt trời.
****

 
BÀI 21: VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI
 
1.- Như chúng ta đã thấy trong những bài huấn dụ trước, trong suy tư đạo lý của Giáo Hội bên Đông phương, thành ngữ “Đầy ơn phúc” từ thế kỷ thứ VI đã được giải thích về sự thánh thiện chi phối suốt cuộc đời Đức Maria. Như vậy Người đã khai trương một cuộc tạo dựng mới.
 
Bên cạnh trình thuật việc Truyền Tin của thánh Luca, Truyền Thống và Huấn Quyền đã coi bản văn gọi là “Phúc Âm nguyên thủy” (St 3,15) như là một nguồn nữa của Sách Thánh bàn về chân lý Vô Nhiễm Nguyên Tội của Đức Maria.
 
Đoạn văn này, dựa theo bản dịch Latinh: “Bà sẽ đạp dập đầu ngươi”, đã gợi hứng cho rất nhiều bức họa vẽ Đức Vô Nhiễm đạp con rắn ở dưới chân mình.
 
Trước đây chúng tôi đã có dịp lưu ý rằng bản dịch Latinh không có sát với nguyên bản Do Thái, theo đó không phải là người nữ, nhưng là dòng dõi của bà, miêu duệ của bà, chà đạp đầu con rắn. Do đó bản văn quy gán sự chiến thắng Satan không phải là cho Đức Maria, nhưng là cho Con của Người. Tuy nhiên bởi vì quan niệm Kinh Thánh đặt ra một sự liên kết chặt chẽ giữa cha mẹ với dòng dõi, cho nên cũng phù hợp với nghĩa nguyên bản khi trình bày Đức Nữ Vô Nhiễm đạp dập đầu con rắn, không phải do quyền năng riêng của mình nhưng do ân huệ của Con mình.
 
2.- Hơn nữa, bản văn Kinh Thánh vừa nói còn nhắc tới sự thù địch giữa một bên là người phụ nữ và dòng dõi của người đó, còn bên kia là con rắn với dòng dõi của nó. Đó là một sự thù địch do chính Thiên Chúa đã ấn định và mang một ý nghĩa đặc biệt khi chúng ta nghĩ tới sự thánh thiện của Đức Trinh Nữ. Để có thể diễn tả sự thù địch giữa con rắn và dòng dõi của nó, Đức Maria cần phải được cứu thoát khỏi quyền lực của tội lỗi ngay từ lúc bắt đầu hiện hữu.
 
Về điểm này, thông điệp Fulgens Corona, do Đức Thánh Cha Piô XII công bố năm 1953 để kỷ niệm 100 năm tuyên bố tín điều Vô Nhiễm Nguyên Tội, đã lý luận như sau: “Giả như đã có một lúc nào đó Đức Thánh Trinh Nữ Maria đã không được ơn thánh Chúa phù giúp, để cho vết nhơ của tội nguyên tổ chiếm đoạt, thì giữa Người và con rắn sẽ đâu còn sự thù địch truyền kiếp mà truyền thống đã nói tới khi định nghĩa tín điều Vô Nhiễm Nguyên Tội; trái lại, đã xảy ra một sự khuất phục của Đức Maria đối với con rắn ”.
 
Vì thế sự thù địch tuyệt đối mà Chúa đã thiết lập giữa người nữ và ma quỷ đòi hỏi rằng nơi Đức Maria sự Vô Nhiễm Nguyên Tội, nghĩa là hoàn toàn được cứu thoát khỏi tội lỗi ngay từ lúc bắt đầu hiện hữu. Người Con của Đức Maria đã mang lại chiến thắng trên Satan và đã cho bà Mẹ được hưởng trước cuộc chiến thắng đó, bằng cách cứu Người ra khỏi tội lỗi.
 
Do đó, Chúa Con đã ban cho Người quyền năng chống cự ma quỷ, và như thế trong mầu nhiệm Vô Nhiễm Nguyên Tội, Chúa đã thể hiện hậu quả của công trình cứu chuộc một cách lạ thường.
 
3.- Danh xưng “Đầy ơn phúc “và Phúc Âm nguyên thủy, khi lôi kéo sự chú ý của chúng ta đến sự thánh thiện đặc biệt của Đức Maria và sự cứu thoát khỏi ảnh hưởng của Satan, làm cho chúng ta nghĩ tới, - qua một đặc ân duy nhất Chúa ban cho Đức Maria -, về sự khởi đầu một trật tự mới như là hậu quả của tình thân hữu với Thiên Chúa, và do đó tạo ra một sự thù địch giữa con rắn và loài người.
 
Khi tìm căn bản Kinh Thánh cho tín điều Vô Nhiễm Nguyên Tội, người ta cũng thường trưng dẫn đoạn văn ở chương 12 sách Khải Huyền, nói tới một “người nữ khoác áo mặt trời” (12,1). Khoa chú giải ngày nay đồng ý cho rằng người nữ tượng trưng cho cộng đoàn dân Chúa, đau đớn sinh ra Đấng Mêsia sống lại.
 
Tuy nhiên, bên cạnh việc giải thích theo nghĩa tập thể, bản văn cũng gợi ý nói tới một cá nhân khi khẳng định rằng: “Bà ấy sẽ sinh ra một con trai, được sắp xếp để thống trị các dân nước bằng vương miện bằng sắt” (12,5). Như vậy, liên quan tới việc sinh con, người ta chấp nhận có sự đồng hóa người nữ khoác áo mặt trời với Đức Maria, người đàn bà đã sinh ra Đấng Mêsia. Thực vậy, người đàn bà “tập thể” được miêu tả với những nét tương tự như người đàn bà Thân Mẫu Đức Giêsu.
 
Đặc trưng của người đàn bà này là việc làm mẹ: bà “thụ thai và kêu gào vì những sự đau quặn lúc sinh” (12,2). Chi tiết này gợi lên cảnh tượng Thân Mẫu Đức Giêsu đứng gần bên Thập giá (xc. Ga 19,25), nơi mà Người thông dự vào cuộc sinh hạ cộng đoàn các tín hữu với tâm hồn bị lưỡi gươm đâm thâu qua (xc. Lc 2,35).
 
Mặc dù đau đớn, nhưng bà “được khoác áo mặt trời”, - nghĩa là bà phản chiếu ánh quang của Thiên Chúa, và trở thành “một điềm lạ vĩ đại” của mối tương quan tình thương của Thiên Chúa dành cho dân Người.
 
Tuy những hình ảnh này không đả động trực tiếp đến ân huệ Vô Nhiễm Nguyên Tội, nhưng chúng có thể được giải thích như là cách diễn tả lòng âu yếm của Chúa Cha đã bao trùm Đức Maria bằng ân phúc của Đức Kitô và ánh quang của Chúa Thánh Thần.
 
Sau cùng, sách Khải Huyền còn mời gọi hãy nhìn chiều kích Giáo Hội nơi bản thân Đức Maria: người đàn bà khoác áo mặt trời tượng trưng cho sự thánh thiện của Hội Thánh, sự thánh thiện này đã được thực hiện toàn vẹn nơi Thánh Trinh Nữ, do một ân huệ đặc biệt.
 
4.- Đối lại với những lời khẳng định đặc biệt của Kinh Thánh mà Truyền Thống và Huấn Quyền dựa vào để chứng minh đạo lý về sự Vô Nhiễm Nguyên Tội, xem ra có những vấn nạn dựa trên những đoạn văn Kinh Thánh nói tới tội lỗi tràn ngập nhân loại.
 
Cựu Ước nói tới một sự ô nhiễm tội lỗi chi phối hết mọi người “sinh ra bởi người nữ” (Tv 50,7; G 14,2). Trong Tân Ước, thánh Phaolô tuyên bố rằng do tội của ông Ađam, “tất cả mọi người đều mắc tội” và “vì tội của một người mà sự luận phạt đã được đổ xuống hết mọi người” (Rm 5,12.18). Vì thế, như sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo đã nói, tội nguyên tổ đã “chi phối bản tính con người”, vì thế nó bị “rơi vào tình trạng suy đồi”. Tội đã được truyền lại “do sự phát triển của nhân loại, nghĩa là do việc truyền đạt bản tính con người đã mất ơn thánh và sự công chính nguyên thủy” (s. 404). Tuy nhiên thánh Phaolô đã khẳng định một khoản trừ của định luật tổng quát vừa nói: đó là Đức Kitô, Đấng đã “không biết chi đến tội lỗi” (2 Cr 5,21), và như thế Người có thể mang ơn thánh dồi dào đến nơi “mà tội lỗi tràn ngập” (Rm 5,20).
 
Những lời vừa nói không hẳn đưa tới kết luận rằng Đức Maria cũng bị gộp trong vòng nhân loại tội lỗi. Sự so sánh của thánh Phaolô giữa ông Ađam với Đức Kitô được bổ túc với sự so sánh giữa bà Evà với Đức Maria. Vai trò của người nữ vào lúc xảy ra bi kịch tội lỗi cũng được diễn lại vào lúc cứu chuộc nhân loại.
 
Thánh Irênêô đã trình bày Đức Maria như là bà Eva mới: Đức Maria nhờ lòng tin và sự tuân phục đã làm nghiêng lại cán cân của sự bất tín và bất tuân của bà Eva. Một vai trò như vậy trong lịch sử cứu độ đòi hỏi phải được miễn trừ khỏi tội lỗi. Vì thế, cũng tương tự như Đức Kitô-Adam mới, thực là một điều xứng hợp cho Đức Maria-bà Eva mới, cũng không biết đến tội lỗi và như thế có khả năng cộng tác vào công cuộc cứu chuộc.
 
Tội lỗi, ví như dòng thác lôi cuốn tất cả nhân loại đã phải dừng lại trước Đấng Cứu Thế và cộng-sự-viên trung tín của Người. Dĩ nhiên là có một sự khác biệt căn bản: Đức Kitô hoàn toàn thánh thiện do hiệu lực của ơn kết hợp nhân tính với thiên tính; còn Đức Maria được nên thánh do ân sủng được lãnh nhận nhờ công trạng của Chúa Cứu Thế.
 
Đức thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II
(Bản dịch tiếng Việt của Linh mục Giuse Phan Tấn Thành, OP.)