24/03/2018
385
Những Huấn Giáo Của Đức Gioan Phaolô II Về Đức Maria

Lời người chuyển ngữ: Đức thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II đã dành 70 bài huấn giáo để nói về Đức Maria, kéo dài từ ngày 07.09.1995 đến ngày 13.11.1997.

Bài huấn giáo hôm nay giải thích nội dung của tín điều Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội, được long trọng tuyên bố do Đức Giáo hoàng Piô IX, với sắc chiếu Ineffabilis Deus, ngày 08.12.1854. Vài chi tiết của tín điều được đức Piô XII bổ túc trong thông điệp Fulgens Doctrina, nhân dịp kỷ niệm 100 năm công bố.
****

 
BÀI 23: VIỆC TUYÊN BỐ TÍN ĐIỀU VÔ NHIỄM
 
1.- Niềm xác tín rằng Đức Maria đã được phòng ngừa khỏi hết mọi tì vết tội lỗi ngay từ lúc thụ thai, đến nỗi có thể đáng được gọi là Đấng toàn thánh, trải qua dòng thời gian đã đâm sâu vào Phụng Vụ và thần học. Vào đầu thế kỷ thứ XIX, sự tiến triển đó đã gợi lên một phong trào thỉnh nguyện khi tuyên bố tín điều về đặc ân Vô Nhiễm Nguyên Tội.
 
Đáp lại lời yêu cầu đó, vào giữa thế kỷ, Đức Thánh Cha Piô IX, sau khi đã tham khảo các nhà thần học, đã thỉnh ý tất cả các giám mục về việc có nên và có thể định nghĩa tín điều hay không, ra như triệu tập một “Công Đồng bằng thư tín”. Kết quả thực là đầy ý nghĩa: đại đa số 604 giám mục đã trả lời đồng ý với đề nghị.
 
Sau khi đã xúc tiến cuộc tham khảo rộng rãi, biểu lộ mối ưu tư của Đức Piô IX trước việc phát biểu đức tin của Hội Thánh khi xác định tín điều, ngài cũng rất cẩn thận trong việc soạn thảo văn kiện.
 
Ủy Ban Thần Học, do Đức Thánh Cha Piô IX thiết lập để khảo sát về chân lý mạc khải, đã dành cho sự sống đạo của Giáo Hội một vai trò quan yếu. Chính tiêu chuẩn này đã ảnh hưởng tới việc phát biểu tín điều, bởi vì những biểu thức của đời sống Hội Thánh, của đức tin và phụng tự của Dân Chúa, chiếm chỗ đứng đặc biệt hơn là những lý luận của kinh viện.
 
Sau cùng, năm 1854, Đức Piô IX, với sắc chiếu Ineffabilis, đã long trọng công bố tín điều Vô Nhiễm Nguyên Tội như sau: “Chúng tôi long trọng tuyên bố (declaramus, pronuntiamus et definimus) rằng đây là một đạo lý được Chúa mặc khải: Trinh Nữ Maria rất thánh, ngay từ lúc đầu tiên thụ thai, đã được phòng ngừa khỏi tì ố của tội nguyên tổ, nhờ ân sủng diệu kỳ và do đặc ân của Thiên Chúa toàn năng, và vì nhắm tới công trạng của Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu Chuộc nhân loại. Vì vậy, chân lý đó cần phải được hết mọi tín hữu tin vững chắc”.
 
2.- Lời công bố tín điều Vô Nhiễm đã diễn tả nòng cốt của dữ kiện đức tin. Đức Giáo Hoàng Alêxandrô VII, trong sắc chiếu Sollicitudo, năm 1661, đã nói tới ơn phòng ngừa của linh hồn Đức Maria “vào lúc được dựng nên và phú bẩm vào trong thân xác”. Trái lại, định tín của Đức Piô IX không đả động gì đến cách thức phú bẩm linh hồn vào trong thân xác, và áp dụng việc được gìn giữ khỏi mọi tì ố của tội nguyên tổ cho bản thân Đức Maria, vào giây phút đầu tiên của việc thụ thai.
 
Việc phòng ngừa “khỏi mọi tì ố của tội nguyên tổ” cũng bao hàm một hệ quả tích cực là sự phòng ngừa khỏi hết mọi tội lỗi, và việc công bố Đức Maria thánh thiện hoàn toàn. Đạo lý được sự công bố tín điều mang lại sự đóng góp quan trọng. Thực vậy, việc diễn tả đặc ân một cách tiêu cực, - bị chi phối do những cuộc tranh luận bên Tây Phương về tội nguyên tổ -, cần được bổ túc bằng việc phát biểu tích cực về sự thánh thiện của Đức Maria, được truyền thống Đông Phương nhấn mạnh rõ rệt.
 
Sự tuyên tín của Đức Piô IX chỉ nói tới sự gìn giữ khỏi tội nguyên tổ và không minh thị bao hàm sự gìn giữ khỏi các dục vọng. Tuy nhiên, việc Đức Maria được gìn giữ khỏi hết mọi vết nhơ tội lỗi cũng mang theo hệ luận rằng Người cũng được giữ gìn cho khỏi những dục vọng, nghĩa là những khuynh hướng vô trật tự, theo như Công Đồng Trentô đã nói, xuất phát từ tội lỗi và hướng chiều về tội lỗi.
 
3.- “Nhờ ân sủng diệu kỳ và do đặc ân của Thiên Chúa toàn năng”, sự gìn giữ khỏi tội nguyên tổ là một đặc ân của Thiên Chúa có tính cách hoàn toàn nhưng không, mà Đức Maria đã lãnh nhận ngay từ lúc đầu tiên của sự hiện hữu.
 
Công thức định tín không nói rằng đây là một đặc ân độc nhất vô nhị, nhưng hiểu ngầm như vậy. Tính cách độc nhất vô nhị được khẳng định rõ rệt trong thông điệp Fulgens Corona, năm 1953, khi Đức Thánh Cha Piô XII nói tới “một đặc ân duy nhất không hề được ban cho một ai khác”, như vậy đã loại trừ ý kiến (tuy chẳng có nền tảng) của vài người nghĩ rằng đặc ân cũng có thể được ban cho thánh Giuse.
 
Trinh Nữ Maria đã lãnh nhận đặc ân Vô Nhiễm Nguyên Tội “nhắm tới công trạng của Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu Chuộc nhân loại”, nghĩa là nhờ việc cứu chuộc phổ quát của Chúa Kitô.
 
Bản văn định tín không nói minh thị rằng Đức Maria đã được cứu chuộc; tuy vậy, sắc chiếu Ineffabilis đã khẳng định ở một chỗ khác rằng “Người đã được cứu chuộc cách vượt bực”. Đây là một chân lý diệu kỳ: Đức Kitô là kẻ cứu chuộc Thân Mẫu của mình và đã tác động nơi Người một sự cứu chuộc “một cách hết sức tuyệt hảo” (Fulgens Corona), ngay từ giây phút đầu tiên của cuộc hiện hữu. Công Đồng Vaticanô II đã tuyên bố rằng Hội Thánh “trầm trồ tán dương nơi Đức Maria hoa trái phúc lộc nhất của Cuộc Cứu Chuộc” (Hiến chế Phụng Vụ, số 103).
 
4.- Đạo lý được long trọng công bố như là “do Chúa mặc khải”. Đức Giáo Hoàng Piô IX thêm rằng chân lý đó “cần phải được hết mọi tín hữu tin vững chắc”. Do đó, những ai không chấp nhận, hoặc duy trì một ý kiến đối nghịch thì “đức tin của họ bị chìm đắm” và “đã tự tách rời khỏi sự hợp nhất công giáo”.
 
Khi công bố chân lý về tín điều Vô Nhiễm Nguyên Tội, vị tiền nhiệm của tôi đã ý thức rằng mình đang thực hiện quyền giáo huấn bất khả ngộ với tư cách là mục tử của toàn thể Hội Thánh, một điều sẽ được định tín tại Công Đồng Vaticanô I sau đó. Người đã dùng quyền giáo huấn bất khả ngộ nhằm phục vụ đức tin của toàn thể Dân Chúa. Thực là có ý nghĩa khi mà sự phục vụ thể hiện qua việc xác định một đặc ân của Đức Maria.
 
Đức thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II
(Bản dịch tiếng Việt của Linh mục Giuse Phan Tấn Thành, OP.)