27/03/2018
346
Những Huấn Giáo Của Đức Gioan Phaolô II Về Đức Maria

Lời người chuyển ngữ: Đức thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II đã dành 70 bài huấn giáo để nói về Đức Maria, kéo dài từ ngày 07.09.1995 đến ngày 13.11.1997.

Tự nó, tín điều Vô Nhiễm Nguyên Tội chỉ khẳng định rằng Đức Maria được phòng ngừa khỏi tì ố của tội nguyên tổ. Tuy nhiên, truyền thống Hội Thánh, nhất là bên Đông Phương, đã nhìn Đức Maria như Đấng “Toàn thánh” (hoàn toàn thánh thiện). Người không mắc tội riêng cũng không mắc những khiếm khuyết luân lý.
****

 
BÀI 24: THÁNH THIỆN SUỐT ĐỜI
 
1.- Việc xác định tín điều Vô Nhiễm Nguyên Tội chỉ nhắm trực tiếp đến lúc đầu tiên của cuộc đời Đức Maria; ngay từ lúc ấy Người đã được “phòng ngừa khỏi hết mọi tì ố của tội nguyên tổ”. Như vậy Huấn Quyền của Đức Thánh Cha chỉ muốn xác định chân lý đã trở thành đối tượng của những cuộc tranh luận trải qua các thế kỷ: việc phòng ngừa khỏi tội nguyên tổ, chứ không bận tâm đến việc định nghĩa sự thánh thiện suốt đời của Đức Trinh Nữ Thân Mẫu của Chúa. Chân lý này đã nằm trong cảm thức chung của các Kitô hữu rồi. Cảm thức này chứng thực rằng Đức Maria không mắc tội nguyên tổ thì cũng được giữ gìn cho khỏi hết mọi tội cá nhân, và sự thánh thiện nguyên thủy đã được ban cho Người hầu làm tràn đầy trót cuộc sống của mình.
 
2.- Hội Thánh luôn luôn nhìn nhận rằng Đức Maria thánh thiện và được thoát khỏi hết mọi tội lỗi và mọi khiếm khuyết luân lý. Công Đồng Trentô bày tỏ niềm xác tín đó khi quả quyết rằng không ai “có thể tránh được, trong suốt cuộc đời, khỏi hết mọi tội lỗi dù là tội nhẹ đi nữa, nếu không do một đặc ân khác thường, như Hội Thánh vẫn hiểu về Đức Thánh Trinh Nữ” (DS 1573). Kể cả người Kitô hữu, dẫu đã được ơn thánh biến đổi và canh tân, vẫn còn có thể phạm tội. Thực vậy, ơn thánh không phòng ngừa khỏi hết mọi tội lỗi trong suốt đời, trừ khi nào được một đặc ân đảm bảo sự miễn trừ tội lỗi, như Công Đồng Trentô đã khẳng định. Điều này đã xảy ra nơi Đức Maria.
 
Công Đồng Trentô đã không muốn định tín về đặc ân này, nhưng đã tuyên bố rằng Hội Thánh “chủ trương” (tenet), nghĩa là nắm giữ, khẳng định chắc chắn. Đây là một sự lựa chọn từ ngữ nhấn mạnh đến tính cách vững chắc của đạo lý, chứ không muốn xếp vào những loại lòng tin tưởng đạo đức hay ý kiến sốt sắng; chân lý này đã hiện diện trong niềm tin của Dân Chúa. Mặt khác, niềm thâm tín đó dựa trên ân phúc mà thiên thần nhận thấy nơi Đức Maria vào lúc Truyền Tin. Khi gọi Người là “Đấng đầy ân phúc”, kekharitomene, thiên sứ đã nhìn nhận nơi Người một phụ nữ được trang điểm bằng sự toàn hảo bền vững và sự tràn đầy thánh thiện, không có bóng dáng tội lỗi, không có khiếm khuyết về luân lý và đạo đức.
 
3.- Một vài giáo phụ thuộc những thế kỷ đầu tiên, khi chưa thủ đắc niềm thâm tín về sự thánh thiện toàn diện của Đức Maria, cho nên đã gán cho Người một vài sự bất toàn hay khuyết điểm. Ngay cả một vài tác giả gần đây cũng lấy lại ý kiến đó. Tuy nhiên những bản văn Phúc Âm được họ trưng dẫn để bảo vệ ý kiến này không thể nào cho phép dùng làm cơ sở để khẳng định về một tội lỗi hay bất toàn luân lý ở nơi Thân Mẫu Đấng Cứu Chuộc.
 
Câu trả lời của Đức Giêsu cho Thân Mẫu của mình, lúc lên 12 tuổi: “Tại sao ông bà tìm tôi? Ông bà không biết rằng tôi phải lo lắng những công chuyện của Cha tôi sao?” (Lc 2,49), đôi khi đã được giải thích như là một lời trách móc kín đáo. Tuy nhiên, nếu đọc kỹ bản văn hơn thì chúng ta thấy rằng Đức Giêsu đã không khiển trách bà mẹ và ông Giuse vì đã đi tìm Người, xét vì hai vị có trách nhiệm phải trông nom mình.
 
Khi gặp lại Đức Giêsu sau khi đã khổ cực tìm kiếm, Đức Maria chỉ muốn hỏi lý do của cách cư xử như vậy: “Con ơi, tại sao con đã làm như vậy?” (Lc 2,48). Và Đức Giêsu đã trả lời bằng việc giải thích “tại sao”, chứ không hề trách móc; Người chỉ gợi lên mầu nhiệm mình là Con Thiên Chúa.
 
Những lời nói tại Cana: “Này bà, việc gì đến bà với tôi? Giờ tôi chưa tới” (Ga 2,4), cũng không thể nào được giải thích như là một lời trách móc.
 
Đứng trước cảnh lúng túng sẽ xảy ra cho đôi tân hôn vì thiếu rượu, Đức Maria ngỏ lời với Đức Giêsu một cách đơn sơ, tỏ bày vấn đề cho Người biết. Đức Giêsu, tuy biết mình là Đấng Mêsia chỉ phải vâng theo ý của Cha, đã đón nhận lời yêu cầu của Mẹ. Nhất là Người đã đáp lại đức tin của Đức Trinh Nữ, và như vậy Người đã khởi đầu những phép lạ, bày tỏ vinh quang của Người.
 
4.- Một vài tác giả khác cũng giải thích theo lối tiêu cực lời tuyên bố của Đức Giêsu, khi mà vào lúc bắt đầu cuộc đời công khai, Đức Maria và thân quyến muốn được gặp Người. Khi kể lại câu trả lời của Đức Giêsu đối với kẻ trình rằng: “Kìa mẹ và anh em của Thầy đứng ở ngoài và muốn gặp Thầy”, thánh sử Luca đã cho chúng ta chìa khóa để giải thích câu chuyện, nghĩa là phải đi từ tâm tình nội tại của Đức Maria, khác hẳn với những “anh em họ hàng” (xc. Ga 7,5).
 
Đức Giêsu trả lời: “Mẹ tôi và anh em tôi là những người lắng nghe Lời Chúa và đem ra thực hành” (Lc 8,21). Thực vậy, trong trình thuật Truyền Tin, ông Luca đã trình bày Đức Maria như là khuôn mẫu của viêc lắng nghe Lời Chúa và sự quảng đại tuân hành. Được giải thích trong bối cảnh đó, câu chuyện này trở thành một dịp ca ngợi Đức Maria, kẻ đã chu toàn kế hoạch của Thiên Chúa trong cuộc đời của mình. Những lời của Đức Giêsu, vừa chống lại mưu toan của anh em họ hàng, vừa tán dương lòng trung thành của Đức Maria đối với ý của Chúa cũng như vẻ cao cả của Người đã làm mẹ không những về thể lý mà nhất là về tinh thần.
 
Khi bày tỏ sự ca ngợi một cách gián tiếp như vậy, Đức Giêsu đã sử dụng một phương pháp độc đáo: Người đã nêu bật thái độ cao quý của Đức Maria, dưới ánh sáng của những lời khẳng định mang tính cách phổ quát, và bày tỏ sự liên đới và gần gũi của Đức Trinh Nữ đối với nhân loại đang tiến lên con đường khó nhọc của việc nên thánh.
 
Sau cùng, những lời mà Chúa Giêsu dùng để đáp lại lời của một phụ nữ khen bà mẹ của mình có phúc: “Phúc cho những người lắng nghe Lời Chúa và tuân giữ!” (Lc 11,28), không hề nghi ngờ sự toàn thiện của Đức Maria; trái lại, muốn nêu bật việc Người trung tín chu toàn Lời của Chúa: đó là điều mà Hội Thánh vốn hiểu khi dùng những lời đó vào những lễ Phụng Vụ kính Đức Maria.
 
Thực vậy, bản văn Phúc Âm, qua những lời tuyên bố của Đức Giêsu, đã muốn bày tỏ lý do cao quý nhất của Đức Mẹ nằm ở chỗ kết khắng khít với Thiên Chúa và gắn bó hoàn toàn với Lời Chúa.
 
5.- Đặc ân mà Thiên Chúa đã ban cho Đấng “Toàn thánh” đưa chúng ta đến chỗ ca ngợi những kỳ công mà ơn thánh đã thực hiện trong cuộc đời Đức Maria.
 
Đặc ân đó cũng nhắc nhở chúng ta rằng Đức Maria luôn luôn thuộc về Chúa, và không có sự bất toàn nào làm sứt mẻ sự hòa hợp giữa Người với Thiên Chúa.
 
Do đó, cuộc sống dương thế của Người được đánh dấu bằng việc tiến triển không ngừng về đức tin, đức cậy và đức mến. Vì vậy, đối với các tín hữu, Đức Maria là dấu hiệu sáng ngời của lòng Chúa khoan dung và là kẻ hướng dẫn chắc chắn tiến tới những đỉnh cao của sự trọn lành Phúc Âm và sự thánh thiện {1}.
 
Chú thích:
{1}Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo đã trình bày cả hai khía cạnh: tiêu cực, Đức Maria không mắc tì ố tội lỗi (số 488-493); tích cực, Người là Đấng Toàn Thánh (số 721-726; 2767). Đức Maria được vô nhiễm nhờ ơn thánh gìn giữ khỏi tội lỗi, và trở thành lý do để chúng ta tin tưởng vào quyền năng của ơn thánh gìn giữ chúng ta khỏi phạm tội (số 2853-2854). Nơi Đấng Toàn Thánh, chúng ta chiêm ngưỡng lý tưởng thánh thiện (số 829; 967).
 
Đức thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II
(Bản dịch tiếng Việt của Linh mục Giuse Phan Tấn Thành, OP.)