30/03/2018
383
Những Huấn Giáo Của Đức Gioan Phaolô II Về Đức Maria

Lời người chuyển ngữ: Đức thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II đã dành 70 bài huấn giáo để nói về Đức Maria, kéo dài từ ngày 07.09.1995 đến ngày 13.11.1997.

Sau khi đã dừng lại ở những lời “Đầy ơn phước” để trình bày tín điều Vô Nhiễm Nguyên Tội, Đức Thánh Cha tiếp tục phân tích trình thuật Truyền Tin. Khi đối chiếu cảnh Truyền Tin cho ông Dacaria và cảnh Truyền Tin cho Đức Maria, ta thấy nổi bật đức tin của Trinh Nữ Nazarét. Người đã tin vào quyền năng Thiên Chúa có thể thực hiện một điều chưa hề xảy ra trong lịch sử: trinh nữ làm mẹ.
****

 
BÀI 25: KẺ ĐÃ TIN

1.- Trong trình thuật Phúc Âm về cuộc đi Thăm Viếng, bà Elisabét “tràn đầy Chúa Thánh Thần”, khi tiếp đón bà Maria, đã thốt lên: “Phúc cho người đã tin vào sự hoàn tất những lời của Chúa” (Lc 1,45). Chân phúc này, xuất hiện lần đầu tiên ở trong Phúc Âm Luca, đã trình bày Đức Maria như là kẻ nhờ đức tin của mình đã dẫn đầu Hội Thánh trong việc thực hành tinh thần các mối phúc thật.
 
Lời ca ngợi mà bà Elisabét dành cho đức tin của Đức Maria còn được củng cố khi đối chiếu với cảnh thiên thần truyền tin cho ông Dacaria. Nếu chỉ đọc lướt qua bản văn thì chúng ta thấy những lời đáp của ông Dacaria và của Đức Maria với lời loan báo của sứ thần giống y như nhau. Ông Dacaria nói rằng: “Làm sao tôi có thể biết được điều đó? Tôi đã già và vợ tôi đã cao niên”. Còn Đức Maria thì nói: “Điều đó sẽ xảy ra như thế nào? Tôi không biết người nam” (Lc 1,18.34). Tuy nhiên, sự khác biệt sâu xa giữa thái độ của hai nhân vật đã được vạch lên qua những lời của sứ thần. Vị này đã khiển trách ông Dacaria vì thiếu lòng tin, còn đối với vấn nạn của Đức Maria thì thiên sứ tìm cách giải thích. Khác với người chồng của bà Elisabét, Đức Maria đã hoàn toàn thuận nhận chương trình của Thiên Chúa, không đặt điều kiện cho sự chấp thuận là Chúa phải ban một dấu lạ hữu hình.
 
Khi thiên thần đưa ra đề nghị làm mẹ, Đức Maria trình bày ý định giữ mình đồng trinh. Tuy vẫn tin rằng lời loan báo có thể thực hiện được, nhưng Đức Maria đã hỏi thiên sứ về cách thức của cuộc thực hiện đó, ngõ hầu mình có thể thi hành ý Chúa một cách hoàn hảo hơn, như thánh Augustinô đã chú giải: “Đức Maria tìm hiểu cách thức, chứ Người không nghi ngờ về sự toàn năng của Thiên Chúa “(Bài giảng số 291).
 
2.- Kể cả khung cảnh diễn ra hai cuộc truyền tin cũng góp phần vào việc tán dương đức tin của Đức Maria. Trong bài trình thuật của Luca, chúng ta thấy khung cảnh thật là thuận lợi đối với ông Dacaria, nhưng lời đáp của ông thì lại hoàn toàn bất xứng. Ông đã nhận được lời truyền tin của sứ thần trong đền thánh Giêrusalem, tại bàn thờ trước mặt “Đấng cực thánh” (xc Xh 30,6-8); thiên sứ hiện ra đang khi ông dâng hương, nghĩa là đang khi thực hiện chức vụ tư tế, vào một giây phút nghiêm trọng của cuộc đời; ý định của Thiên Chúa đã được thông đạt cho ông qua một thị kiến. Những hoàn cảnh ấy giúp cho việc hiểu biết sứ điệp của Thiên Chúa một cách chính xác hơn và tạo lý do để thúc giục ông mau mắn đón nhận sứ điệp.
 
Đối lại, việc truyền tin cho Đức Maria xảy ra trong một khung cảnh giản dị bình thường, không có những yếu tố linh thiêng ở bên ngoài kiểu như ông Dacaria. Thánh sử Luca không có chỉ rõ địa điểm chính xác diễn ra cuộc truyền tin việc sinh hạ Đấng Cứu Thế: ông chỉ nói rằng Đức Maria đang ở Nazarét, một làng tầm thường, không có dấu gì xứng hợp với biến cố trọng đại đó. Ngoài ra, thánh sử không đặt nặng thời khắc mà thiên sứ hiện ra, bởi vì ông không có xác định khung cảnh lịch sử của nó. Trong cuộc tiếp xúc với thiên sứ, mọi chú ý đều dồn vào nội dung của những lời nói của thiên sứ, và đòi hỏi nơi Đức Maria sự chú ý lắng nghe và một đức tin tinh tuyền.
 
Nhận xét này cho phép chúng ta trân trọng đức tin cao cả của Đức Maria, nhất là khi chúng ta đối chiếu với khuynh hướng của con người xưa nay đòi hỏi phải có những dấu hiệu khả giác thì mới tin. Ngược lại, việc chấp thuận ý Chúa của Đức Trinh Nữ chỉ dựa trên lòng kính mến Thiên Chúa mà thôi.
 
3.- Đức Maria đã được yêu cầu chấp thuận một chân lý cao siêu hơn là điều được loan báo cho ông Dacaria.
 
Ông Dacaria được mời gọi hãy tin vào một cuộc sinh ra lạ lùng sẽ được thực hiện ở giữa một đôi hôn nhân son sẻ, mà Thiên Chúa muốn cho nó được phong nhiêu: sự can thiệp này đã từng xảy ra nơi một vài phụ nữ Cựu Ước, như là bà Sara (St 17,15-21; 18,10-14), bà Raken (St 30,22), bà mẹ ông Samson (Tl 13,1-7), bà Anna mẹ của ông Samuel (1 Sm 1,11-20). Những chuyện ấy đều làm nổi bật hồng ân ban không của Thiên Chúa.
 
Còn Đức Maria thì được mời gọi hãy tin vào việc làm mẹ đồng trinh, điều chưa hề có tiền lệ trong Cựu Ước. Thực ra sấm ngôn của ông Isaia: “Này đây trinh nữ sẽ thụ thai và sinh con trai đặt tên là Emmanuel” (7,14), tuy không loại trừ viễn ảnh đó nhưng nó chỉ được giải thích một cách rõ rệt theo chiều hướng này sau khi Đức Kitô đã đến, và dưới ánh sáng của mặc khải Tin Mừng.
 
Đức Maria được yêu cầu chấp nhận một chân lý chưa hề nghe biết trong lịch sử trước đó. Người đã đón nhận với một tinh thần đơn sơ và táo bạo. Với câu hỏi: “Điều này sẽ diễn ra như thế nào?”, Người bày tỏ sự tin tưởng vào quyền năng của Thiên Chúa dung hợp sự đồng trinh với chức làm mẹ khác thường và độc nhất.
 
Khi đáp: “Chúa Thánh Thần sẽ đáp xuống trên chị, quyền năng của Đấng Tối Cao sẽ phủ rợp bóng trên chị” (Lc 1,35), thiên sứ đã cống hiến một giải pháp khôn lường của Thiên Chúa đối lại với câu hỏi mà Đức Maria đã nêu lên. Sự trinh khiết, xem như là một trở ngại, thì đã trở nên một khung cảnh cụ thể qua đó Chúa Thánh Thần sẽ tác động việc thụ thai Con Thiên Chúa nhập thể ở nơi Người. Lời đáp của thiên sứ mở cho Trinh Nữ một con đường hợp tác với Chúa Thánh Thần vào việc sinh Đức Giêsu.
 
4.- Kế hoạch của Thiên Chúa được thực hiện nhờ sự cộng tác tự do về phía con người. Nhờ tin vào lời của Chúa, Đức Maria đã hợp tác vào việc hoàn tất chức làm mẹ được thiên sứ loan báo.
 
Các giáo phụ thường nhấn mạnh khía cạnh này trong việc thụ thai trinh khiết Đức Giêsu. Nhất là thánh Augustinô, khi chú giải Phúc Âm về việc Truyền Tin, đã nói như sau: “thiên sứ truyền tin, Trinh Nữ lắng nghe, tin và chịu thai” (Bài giảng 13 lễ Giáng Sinh). Ông còn thêm: “Đức Kitô đã được tin và thụ thai nhờ đức tin. Trước hết đức tin đã đến trái tim của Trinh Nữ, rồi sau đó sự phong nhiêu mới tới lòng dạ của bà Mẹ” (Bài giảng 213).

Đức tin của Đức Maria nhắc lại đức tin của ông Abraham, Người mà vào lúc bình minh của Cựu Ước đã tin vào Thiên Chúa và trở thành thủy tổ của một dòng dõi đông đúc (xc. St 15,6; Thân Mẫu Đấng Cứu Thế số 14). Vào lúc khai nguyên giao ước mới, Đức Maria nhờ lòng tin của mình cũng đã gây ảnh hưởng quyết liệt đến việc thực hiện mầu nhiệm Nhập Thể, khởi nguyên và tóm lược tất cả sứ mạng cứu chuộc của Đức Giêsu.
 
Mối quan hệ chặt chẽ giữa đức tin và sự cứu rỗi, được Đức Giêsu nhiều lần đề cập tới trong cuộc đời công khai (xc. Mc 5,34; 10,52; v.v..), cũng giúp cho chúng ta hiểu được vai trò quan trọng mà đức tin của Đức Maria đã và đang tác dụng đối với ơn cứu rỗi của nhân loại.
 
Đức thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II
(Bản dịch tiếng Việt của Linh mục Giuse Phan Tấn Thành, OP.)