02/04/2018
114
Những Huấn Giáo Của Đức Gioan Phaolô II Về Đức Maria

Lời người chuyển ngữ: Đức thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II đã dành 70 bài huấn giáo để nói về Đức Maria, kéo dài từ ngày 07.09.1995 đến ngày 13.11.1997.

Trong trình thuật về việc Truyền Tin, thánh Luca gọi Đức Maria là “Trinh Nữ”, tạo nên cơ hội để trình bày đức tin Hội Thánh về sự trinh khiết của Mẹ Maria (từ bài 26 đến bài 31). Lần này, Đức Thánh Cha khảo sát sự khẳng định chân lý này trong Kinh Thánh (bốn Phúc Âm và thánh Phaolô), và Thánh Truyền (các giáo phụ, các Công Đồng chung, các giáo hoàng).

 ****
BÀI 26: CHÂN LÝ ĐỨC TIN VỀ SỰ TRINH KHIẾT CỦA ĐỨC MARIA
 
1.- Đón nhận và đào sâu chứng tá của các Phúc Âm theo Luca, Matthêu, và có lẽ của Gioan, Hội Thánh luôn luôn chủ trương rằng sự trinh khiết {1} của Đức Maria là một chân lý đức tin.
 
Trong trình thuật về sự Truyền Tin, thánh sử Luca đã gọi Đức Maria là “trinh nữ”, vừa muốn nói lên chủ tâm duy trì sự trinh khiết vừa muốn nói lên chương trình của Thiên Chúa dung hợp cách lạ lùng giữa điều dốc tâm đó với chức làm mẹ. Lời khẳng định về sự thụ thai {2} đồng trinh do tác động của Chúa Thánh Thần đã loại bỏ hết mọi giả thuyết sinh sản đơn tính (partenogenesis) tự nhiên, hoặc những giải thích theo chiều hướng khai triển một chủ đề Do Thái hoặc bắt nguồn từ một huyền thoại ngoại giáo.
 
Cấu trúc của bản văn Luca (xc. Lc 1,26-38; 2,19.51) đi ngược với những lối giải thích giảm thiểu. Bố cục chặt chẽ của nó cắt xén những từ ngữ hoặc lối nói khẳng định việc thụ thai trinh khiết do tác động của Chúa Thánh Thần.
 
2.- Thánh sử Matthêu, khi thuật lại việc thiên sứ truyền tin cho ông Giuse, cũng khẳng định giống ông Luca về việc thụ thai do “Chúa Thánh Thần” (Mt 1,20), loại trừ những quan hệ vợ chồng.
 
Ngoài ra, việc sinh hạ trinh khiết của Chúa Giêsu được thông báo cho ông Giuse ở giai đoạn hai: thiên sứ không đến yêu cầu ông thỏa thuận trước khi việc thụ thai Con của bà Maria xảy ra, bởi vì nó là hậu quả của tác động siêu nhiên của Chúa Thánh Thần và do sự hợp tác của bà mẹ mà thôi. Ông Giuse chỉ được yêu cầu hãy tự do chấp nhận vai trò của mình làm bạn của Trinh Nữ và vai trò làm cha đối với Hài Nhi.
 
Thánh Matthêu đã trình bày nguồn gốc trinh khiết của Chúa Giêsu như là ứng nghiệm lời tiên tri của Isaia: “Này đây, trinh nữ thụ thai và sinh một người con được đặt tên là Emmanuel, có nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta” (Mt 1,23; xc. Is 7,14). Như vậy ông Matthêu đưa chúng ta tới kết luận rằng việc thụ thai trinh khiết đã là một đối tượng suy tư của cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi; họ nhận thấy sự kiện phù hợp với chương trình cứu độ của Chúa và việc liên kết với căn tính Đức Giêsu, “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”.
 
3.- Khác với Luca và Matthêu, Phúc Âm thánh Marcô không nói tới việc thụ thai và ra đời của Chúa Giêsu. Tuy vậy, nên lưu ý là ông Marcô không hề nhắc tới ông Giuse, chồng của bà Maria. Dân cư Nazarét gọi Đức Giêsu là “con của bà Maria”, hoặc trong một khung cảnh khác, “Con Thiên Chúa” (3,11; 5,7; xc. 1,1.11; 9,7; 14,61-62; 15,39). Những dữ kiện này phù hợp với đức tin vào mầu nhiệm Đức Giêsu đã được sinh ra cách trinh khiết.

Chân lý này, dựa theo một sự khám phá gần đây của môn chú giải, xem ra cũng được chứa đựng trong chương 13 của Lời tựa Phúc Âm thánh Gioan. Một vài tác giả uy tín thời xưa (thí dụ ông Irênêô và ông Tertulianô) đã trình bày bản văn không phải là ở số nhiều, nhưng là ở số ít: “Người được sinh ra, không phải do máu huyết, cũng không phải do ước muốn của nhục thể, cũng không phải là do ước muốn của người nam, nhưng do bởi Thiên Chúa”.
 
Sự diễn tả ở số ít sẽ xếp Lời tựa của thánh Gioan vào số những chứng tá quan trọng nhất về việc sinh hạ trinh khiết của Chúa Giêsu, được lồng trong khung cảnh của Mầu nhiệm Nhập Thể.
 
Lời khẳng định tương phản của thánh Phaolô: “Khi thời gian tới thời viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con của mình, sinh bởi một phụ nữ… ngõ hầu chúng ta lãnh nhận ơn dưỡng tử” (Gl 4,4-5), cũng mở đường cho câu hỏi về thân thế của người Con và vì thế cũng đặt vấn đề về việc sinh hạ trinh khiết.
 
Chứng tá đồng nhất của các Phúc Âm cho thấy niềm tin vào việc thụ thai trinh khiết của Chúa Giêsu đã được đâm rễ sâu trong những bối cảnh khác nhau của Hội Thánh nguyên thủy. Điều này cho thấy một vài lối giải thích gần đây là thiếu cơ sở vững chắc. Có ý kiến cho rằng việc thụ thai trinh khiết chỉ có ý nghĩa bóng, như là một biểu tượng nhằm diễn tả Đức Giêsu là hồng ân của Thiên Chúa ban cho nhân loại. Một ý kiến khác cho rằng trình thuật về sự trinh khiết thụ thai chỉ là một theologoumenon, (nghĩa là một thể thức diễn tả đạo lý về Đức Giêsu là Con Thiên Chúa), hoặc chỉ là một huyền thoại.
 
Như chúng ta đã thấy, các Phúc Âm chứa đựng sự khẳng định minh thị về một sự thụ thai trinh khiết theo nghĩa sinh lý, do quyền năng của Chúa Thánh Thần; chân lý này đã được Hội Thánh chấp nhận ngay từ những công thức đức tin tiên khởi (xc. GLCG, số 496).
 
4.- Đức tin mà Phúc Âm phát biểu đã được truyền thống kế tiếp củng cố không ngừng. Các công thức đức tin của các văn gia đầu tiên của Kitô giáo đều giả thiết việc khẳng định Chúa Giêsu được sinh ra một cách trinh khiết: các ông Aristiđê, Giustinô, Irênêô, Tertulianô đều hợp ý với thánh Inhaxiô Antiôkia để tuyên xưng rằng Đức Giêsu “thực sự sinh ra bởi một trinh nữ” (Thư gởi giáo đoàn Smyrna 1,2).
 
Những tác giả này muốn nói tới một cuộc sinh hạ trinh khiết của Chúa Giêsu theo nghĩa thực tế và lịch sử, chứ họ không chỉ nói tới một sự trinh khiết về luân lý hoặc là một hồng ân gì đó được phát hiện vào lúc Hài Nhi sinh ra.
 
Những lần định tín trang trọng của các Công Đồng chung hoặc của Huấn Quyền Giáo Hoàng, tiếp theo những công thức đức tin ngắn gọn của thời nguyên thủy, đều hòa hợp với chân lý vừa nói. Công Đồng Calxêđônia (năm 451), trong bản tuyên xưng đức tin được soạn thảo với những từ ngữ được cân nhắc kỹ lưỡng, đã khẳng định rằng Đức Kitô “đã được sinh ra… theo nhân tính, vào những ngày này, vì chúng ta và vì phần rỗi của chúng ta, bởi Đức Trinh Nữ Maria, Thân Mẫu Thiên Chúa”. Một cách tương tự, Công Đồng Constantinôpôlis III (năm 681) tuyên xưng rằng Đức Giêsu “đã được sinh ra… về nhân tính, do Chúa Thánh Thần và do Đức Trinh Nữ Maria, Đấng đáng được gọi đúng lý là Thân Mẫu Thiên Chúa”. Các Công Đồng chung khác (Constantinôpôlis II, Latêranô IV và Lyon II) đều tuyên bố rằng Đức Maria “trọn đời đồng trinh”, như vậy nhấn mạnh tới sự trinh khiết trọn đời. Những lời tuyên bố trên đây được Công Đồng Vaticanô II lặp lại, và nêu bật rằng Đức Maria “nhờ lòng tin và vâng phục…đã sinh ra Con của Chúa Cha trên mặt đất này, không biết đến người nam, nhưng dưới bóng rợp của Chúa Thánh Thần” (HT 63).
 
Bên cạnh các lời định tín của các Công Đồng còn phải thêm những lời định tín của các Đức Giáo Hoàng, liên quan tới tín điều Vô Nhiễm Nguyên Tội của “Trinh Nữ Maria chí thánh” và tín điều về sự lên trời của “Đức Vô Nhiễm Thân Mẫu Thiên Chúa trọn đời đồng trinh”.
 
5.- Mặc dù những lời xác quyết của Huấn Quyền, - ngoại trừ Công Đồng Latêranô năm 649 do ý muốn của Đức Giáo Hoàng Martinô I -, đã không xác định ý nghĩa của từ “trinh khiết”, nhưng đã rõ là nó được hiểu theo nghĩa thông thường: nghĩa là kiêng tránh những hành vi tự ý của quan hệ tính dục và bảo toàn sự nguyên vẹn của thân thể. Dù sao, sự tinh tuyền thể lý được coi như là một điều thiết yếu của chân lý đức tin về sự thụ thai trinh khiết của Chúa Giêsu (xc. GLCG, số 496).
 
Việc gọi Đức Maria là “Thánh thiện, trọn đời đồng trinh, vô nhiễm” gợi lên sự chú ý tới mối liên kết giữa sự thánh thiện và sự trinh khiết. Đức Maria đã muốn sống trinh khiết bởi vì Người được thôi thúc bởi ước muốn dâng hết trọn con tim cho Thiên Chúa.
 
Diễn ngữ được dùng vào dịp tuyên bố tín điều Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, “Đức Vô Nhiễm Thân Mẫu Thiên Chúa, trọn đời đồng trinh” gợi lên ý tưởng về mối liên hệ giữa sự trinh khiết và chức làm mẹ của Đức Maria: cả hai đặc tính đều được kết hiệp một cách lạ lùng trong việc sinh hạ Đức Giêsu, Thiên Chúa thật và người thật. Vì thế sự trinh khiết của Đức Maria được liên kết với chức làm Mẹ Thiên Chúa và với sự thánh thiện hoàn toàn.
 
Chú thích:
{1} “Virgo” được dịch là “trinh khiết”, hoặc “đồng trinh”.
{2} Trong bài này, sự “thụ thai trinh khiết” được hiểu về việc Đức Maria mang thai và sinh Đức Giêsu mà vẫn còn đồng trinh; khác với việc Đức Maria “thụ thai vô nhiễm”, được hiểu về việc Người được phòng ngừa khỏi mọi tì ố tội lỗi ngay từ lúc “thụ thai” (trong lòng bà thánh Anna), nghĩa là từ lúc bắt đầu hiện hữu.
 
Đức thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II
(Bản dịch tiếng Việt của Linh mục Giuse Phan Tấn Thành, OP.)