05/04/2018
352
Những Huấn Giáo Của Đức Gioan Phaolô II Về Đức Maria

Lời người chuyển ngữ: Đức thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II đã dành 70 bài huấn giáo để nói về Đức Maria, kéo dài từ ngày 07.09.1995 đến ngày 13.11.1997.

Qua cuộc đối đáp với thiên sứ, chúng ta được biết là Đức Maria không những đang còn trinh mà còn có ý giữ mình trinh khiết. Trong xã hội Do Thái, sự trinh khiết không phải là một lý tưởng cao thượng. Quyết định của Đức Maria chắc là không tùy thuộc vào xã hội đương thời cho bằng tuân theo một đặc sủng của Thánh Thần. Dù sao, quyết tâm giữ mình đồng trinh vừa biểu lộ lòng yêu mến Chúa, vừa diễn tả tâm tình của “nhóm nghèo của Chúa”, đặt trọn niềm tin tưởng nơi Ngài.  

 ****

BÀI 27: QUYẾT TÂM GIỮ MÌNH TRINH KHIẾT
 
1.- Khi thiên sứ báo tin sự thụ thai và sinh hạ Đức Giêsu, Đức Maria đặt câu hỏi: “Điều đó sẽ xảy ra như thế nào? Tôi không biết người nam” (Lc 1,34). Câu hỏi đó xem ra kỳ dị nếu như chúng ta nghĩ tới những trình thuật Kinh Thánh về việc loan báo một sự sinh hạ lạ thường do một người phụ nữ son sẻ. Trong những trường hợp này, họ là những phụ nữ đã có chồng, nhưng lâm cảnh hiếm muộn, và Thiên Chúa đã ban cho họ một đứa con qua đời sống vợ chồng thường tình (xc. 1 Sm 1,19-20), đáp lại lời khẩn nài thống thiết của họ (xc. St 15,2; 30,22-23; 1 Sm 1,10; Lc 1,13).
 
Hoàn cảnh của Đức Maria vào lúc đón nhận lời loan báo của sứ thần thì khác hẳn. Người không phải là một phụ nữ đã kết hôn và gặp son sẻ; do một quyết định tự do, Người đã muốn giữ mình trinh khiết. Bởi đó, quyết định giữ mình trinh khiết, hoa quả của lòng mến Chúa xem ra là một trở ngại cho việc làm mẹ theo như được thiên thần báo tin.
 
Thoạt tiên những lời của Đức Maria xem ra chỉ diễn tả tình trạng hiện tại của sự trinh khiết: ra như Đức Maria chỉ nói rằng “không biết” người nam, nghĩa là còn trinh khiết.
 
Tuy nhiên, mạch văn mà Đức Maria đặt lên câu hỏi “điều đó sẽ xảy ra như thế nào?” và lời khẳng định tiếp đó “tôi không biết người nam” làm nổi bật vừa sự trinh khiết hiện tại của Đức Maria, vừa quyết tâm muốn giữ mình trinh khiết. Lời lẽ mà Đức Maria đã sử dụng, với thể động từ ở hiện tại, cho thấy rằng đây là một tình trạng thường xuyên và liên tục.
 
2.- Khi trình bày vấn nạn, Đức Maria không hề muốn chống lại dự án của Thiên Chúa, trái lại Người đã bày tỏ ý định sẽ thuận theo hoàn toàn.
 
Mặt khác, thiếu nữ Nazarét vốn sống hòa hợp với ý muốn của Chúa, và Người đã chọn cuộc sống trinh khiết nhằm làm đẹp lòng Chúa. Thực vậy, quyết định giữ mình trinh khiết chuẩn bị cho tâm hồn Người đón nhận ý muốn của Chúa với tất cả bản ngã nữ tính của mình, và qua sự đáp trả bằng đức tin, Người đã bày tỏ sự hợp tác hoàn toàn với ơn thánh Chúa, - ơn thánh chuẩn bị và nâng đỡ-, cũng như hoàn toàn ngoan ngoãn cho Chúa Thánh Thần tác động (Thân Mẫu Đấng Cứu Thế, số13).
 
Đối với một vài người, những lời nói và ý định của Đức Maria xem ra không thể tin được, bởi vì trong khung cảnh xã hội Do Thái thời đó, sự trinh khiết không phải là một giá trị cũng như không phải là một lý tưởng đáng theo đuổi. Các bản văn Cựu Ước đã chứng minh điều đó qua một vài sự tích. Trong sách Thủ Lãnh chẳng hạn, người ta kể rằng cô gái của ông Giéptê, khi phải đương đầu với sự chết lúc chưa có chồng, thì đã khóc than vì sự trinh khiết của mình, nghĩa là cô đã than khóc vì không có thể kết hôn (Tl 11,38).
 
Ngoài ra, việc kết hôn, do một lệnh truyền của Chúa: “Hãy sinh sôi nảy nở cho nhiều” (St 1,28), được coi như là thiên chức tự nhiên của người phụ nữ, mang theo những vui mừng và những đau khổ của chức phận làm mẹ.

3.- Để có thể hiểu được bối cảnh trong đó quyết định của Đức Maria được chín mùi, thì cần lưu ý rằng vào thời đại kề sát kỷ nguyên Kitô giáo, trong một vài giới Do Thái người ta đã bắt đầu nảy ra một định hướng tích cực đối với sự trinh khiết. Chẳng hạn như nhóm Essênô, mà người ta đã khám phá ra nhiều văn bản ở Qumran, họ đã sống độc thân hoặc hạn chế việc sử dụng hôn nhân, vì muốn giữ đời sống chung và đi tìm sự kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa.
 
Ngoài ra, bên Ai Cập, đã có một cộng đoàn phụ nữ, - có liên lạc với linh đạo của nhóm Essênô -, họ cũng giữ mình khiết tịnh. Những phụ nữ đó, gọi là Térapéutê, thuộc giáo phái được ông Philô Alexanđria kể lại (De vita contemplativa, 21-90), dành hết tâm lực vào việc chiêm ngắm và truy tầm sự khôn ngoan.
 
Không chắc gì Đức Maria đã được thông tin về những nhóm tôn giáo Do Thái đã theo đuổi lý tưởng độc thân và trinh khiết như vậy. Nhưng sự kiện ông Gioan Tẩy Giả có lẽ đã sống đời độc thân, và sự độc thân đã được đánh giá cao trong cộng đoàn các môn đệ của ông, điều này có thể giả thiết rằng lòng quyết tâm trinh khiết của Đức Maria được lồng trong một khung cảnh mới về tôn giáo và văn hóa.
 
4.- Tuy nhiên, hoàn cảnh khác thường của Đức Trinh Nữ Nazarét không nên để cho chúng ta rơi vào chỗ sai lầm là hoàn toàn gắn liền những tâm tình của Người với não trạng thời đại, xóa bỏ tính cách độc nhất của mầu nhiệm diễn ra nơi Người. Cách riêng, chúng ta không được quên rằng Đức Maria, ngay từ lúc khởi nguyên của cuộc sống, đã lãnh nhận một ân huệ phi thường mà thiên sứ đã nhìn nhận vào lúc Truyền Tin. “Được đầy ơn phúc” (Lc 1,28), Đức Maria đã được trau dồi với sự thánh thiện trọn hảo khởi đầu từ lúc đầu tiên của cuộc sống, theo như Hội Thánh đã giải thích: đặc ân duy nhất của việc Vô Nhiễm Nguyên Tội đã gây tác dụng trên toàn thể sự phát triển đời sống thiêng liêng của thiếu nữ Nazarét.
 
Vì thế cần phải nói rằng Đức Maria đã được hướng dẫn tới lý tưởng trinh khiết nhờ một sự linh ứng khác thường mà Chúa Thánh Thần, trong dòng lịch sử của Hội Thánh, sẽ gợi lên nơi nhiều phụ nữ trên con đường tận hiến trinh khiết.
 
Sự hiện diện đặc biệt của ơn thánh trong cuộc đời Đức Maria đưa chúng ta đến kết luận rằng Người đã cam kết giữ mình trinh khiết. Được đầy tràn những ân huệ Thiên Chúa ngay từ lúc bắt đầu cuộc sống, Người đã hướng tới sự dâng hiến toàn thể con người -cả hồn và xác- cho Thiên Chúa qua một cuộc hiến dâng trinh khiết.
 
Ngoài ra, lòng khao khát đời sống trinh khiết còn hòa hợp với sự “khó nghèo” trước mặt Thiên Chúa mà Cựu Ước đã gán cho một giá trị lớn lao. Khi dấn thân vào con đường này, Đức Maria đã khước từ chức làm mẹ, được coi như là sự phong phú tự nhiên của người phụ nữ, rất được quý trọng ở Israel. Như vậy “Đức Maria đã trổi vượt trên hết mọi người và trong những người nghèo của Thiên Chúa, những kẻ đã tin tưởng trông chờ và đã lãnh nhận ơn cứu độ nơi Người” (HT 55). Tuy nhiên, khi trình diện trước mặt Thiên Chúa như là người nghèo và chỉ nhằm tới sự phong nhiêu tinh thần, hoa quả của lòng mến Chúa, vào lúc Truyền Tin, Đức Maria đã khám phá ra rằng sự khó nghèo của mình đã được Thiên Chúa biến đổi thành sự giàu sang: Người sẽ trở thành người mẹ trinh khiết của Con Đấng Tối Cao. Sau này, Người sẽ khám phá ra rằng chức làm mẹ của mình sẽ được mở rộng ra cho tới hết mọi người mà Con mình đã đến để cứu rỗi (xc. GLCG, số 501).
 
Đức thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II
(Bản dịch tiếng Việt của Linh mục Giuse Phan Tấn Thành, OP.)