14/04/2018
118
Những Huấn Giáo Của Đức Gioan Phaolô II Về Đức Maria

Lời người chuyển ngữ: Đức thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II đã dành 70 bài huấn giáo để nói về Đức Maria, kéo dài từ ngày 07.09.1995 đến ngày 13.11.1997.

Tuy Đức Maria giữ mình đồng trinh nhưng Người đã đính hôn với ông Giuse. Rất có thể là cả hai đều được Chúa Thánh Thần soi sáng để thỏa thuận sống trinh khiết. Nhưng một điều chắc chắn là Chúa đã muốn sự hiện diện của thánh Giuse để cộng tác vào việc thực hiện mầu nhiệm Nhập Thể: Hài Nhi Giêsu cần một người cha để phát triển nhân cách. Tuy không sinh Đức Giêsu, nhưng thánh Giuse được gọi thi hành chức vụ làm cha đối với Người.

 ****

 
BÀI 30: SỰ KẾT HIỆP TRINH KHIẾT GIỮA ĐỨC MARIA VÀ THÁNH GIUSE
 
1.- Khi giới thiệu Đức Maria là “trinh nữ”, Phúc Âm thánh Luca thêm rằng “người đã đính hôn với một người thuộc nhà Đavít tên là Giuse” (Lc 1,27).

Thoạt tiên, xem ra hai dữ kiện này mâu thuẫn. Tuy nhiên cần ghi nhận rằng trong tiếng Hy Lạp, đoạn văn này không nói rằng người nữ đã kết hôn và sống trong bậc vợ chồng, nhưng mà chỉ nói đến việc đính hôn. Khác với các nền văn minh tân tiến, trong phong tục Do Thái cổ truyền, việc đính hôn bao gồm một giao ước và thường có tính cách chung quyết: thực vậy, nó dẫn những cặp đính hôn tiến tới hôn nhân, mặc dù hôn nhân chỉ được hoàn tất kể từ lúc chú rể đưa cô dâu về nhà mà thôi.
 
Vào lúc Truyền Tin, Đức Maria ở trong tình trạng đính hôn. Thử hỏi: tại sao Người đã chấp nhận sự đính hôn một khi đã dốc lòng giữ mình trinh khiết suốt đời?
 
Thánh sử Luca đã nhận thấy sự khó khăn đó, nhưng ông chỉ ghi nhận tình hình mà không đưa ra một lời giải thích nào hết. Sự kiện thánh sử nêu bật quyết tâm sống trinh khiết của Đức Maria nhưng đồng thời cũng trình bày như là vợ của ông Giuse là một dấu chỉ cho thấy cả hai chi tiết này đều đáng tin về khía cạnh lịch sử.
 
2.- Có thể giả thiết rằng giữa ông Giuse và bà Maria, vào lúc đính hôn, họ đã đồng ý với nhau về cuộc sống trinh khiết. Mặt khác, Chúa Thánh Thần, Đấng đã gợi hứng cho Đức Maria lựa chọn sự trinh khiết để nhằm tới mầu nhiệm Nhập Thể và đã muốn cho mầu nhiệm này diễn ra trong khung cảnh một gia đình thích hợp cho sự tăng trưởng của Hài Nhi, thì ắt là Ngài cũng có thể gợi nơi ông Giuse lý tưởng trinh khiết.
 
Sứ thần của Chúa, khi hiện ra với ông Giuse trong giấc mơ, đã nói như sau: “Này, ông Giuse, con vua Đavít, đừng sợ đón bà Maria về làm vợ, bởi vì đứa con mà bà sinh ra là do Thánh Thần” (Mt 1,20). Như vậy ông Giuse đã nhận được lời xác nhận ơn gọi sống con đường hôn nhân một cách hết sức đặc biệt.
 
Qua việc hiệp thông trinh khiết với người nữ đã được chọn để sinh hạ Đức Giêsu, Chúa đã gọi ông Giuse hợp tác vào việc thực hiện chương trình cứu chuộc.
 
Kiểu hôn nhân mà Chúa Thánh Thần hướng dẫn bà Maria và ông Giuse chỉ có thể hiểu được trong toàn bộ kế hoạch cứu độ và trong khung cảnh một linh đạo cao siêu. Việc thực hiện cụ thể mầu nhiệm Nhập Thể đòi hỏi một sự sinh hạ trinh khiết để nêu bật Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, và đồng thời đòi hỏi một gia đình để bảo đảm cho nhân cách của Hài Nhi được phát triển điều hòa.
 
Chính vì phải góp phần vào mầu nhiệm của Ngôi Lời Nhập Thể mà ông Giuse và bà Maria đã lãnh nhận ơn thánh để họ vừa sống đặc sủng trinh khiết vừa sống hồng ân hôn nhân. Sự thông hiệp tình yêu trinh khiết giữa Đức Maria và ông Giuse, tuy tạo nên một trường hợp hết sức đặc biệt, gắn liền với việc thực hiện mầu nhiệm Nhập Thể, nhưng vẫn là một hôn nhân đích thực (xc. Tông huấn Redemptoris Custos, số 7) {1}.
 
Nỗi khó khăn trong việc hình dung mầu nhiệm cao siêu của sự thông hiệp vợ chồng giữa hai ngài đã đưa vài tác giả, ngay từ thế kỷ thứ II, tới chỗ mường tượng ông Giuse đã cao niên và coi ông như là người hộ thủ hơn là chồng của bà Maria.
 
Tuy nhiên, có lý do để giả thiết rằng lúc đó ông Giuse không phải là một người già, nhưng mà do sự hoàn thiện nội tâm, hoa quả của ơn thánh, ông đã có thể sống với mối tương quan vợ chồng với Đức Maria với tâm tình trinh khiết.
 
3.- Sự kết hiệp của ông Giuse vào Mầu nhiệm Nhập Thể cũng bao hàm việc thực hiện chức vụ làm cha đối với Đức Giêsu.
 
Chức vụ này đã được thiên sứ nhìn nhận khi hiện ra với ông trong giấc mơ, và mời gọi ông đặt tên cho Hài Nhi: “bà Maria sẽ sinh một con trai và ông sẽ đặt tên là Giêsu: bởi vì Người sẽ cứu dân khỏi tội lỗi” (Mt 1,21).
 
Tuy không có sự sinh ra theo thể lý, nhưng chức vụ của ông Giuse làm cha có thực chất chứ không phải là giả hiệu.
 
Khi phân biệt người “cha” và “thân sinh”, một tác phẩm cổ điển về sự trinh khiết của Đức Maria -De Margarita (thế kỷ thứ IV)- đã khẳng định rằng “những lời cam kết làm vợ chồng giữa Đức Trinh Nữ và ông Giuse đã đáng cho ông được gọi bằng danh hiệu là cha; một người cha mà không sinh con”. Như vậy ông Giuse đã thực hiện chức vụ làm cha đối với Đức Giêsu: ông được sử dụng một quyền hành mà Chúa Cứu Chuộc đã tự ý “suy phục” (Lc 2,51), ông đã đóng góp vào việc giáo dục và truyền đạt nghề làm thợ mộc.
 
Các Kitô hữu luôn luôn nhìn thấy nơi ông Giuse như là Đấng đã sống thân mật với Đức Maria và Chúa Giêsu, và họ kết luận rằng kể cả khi qua đời ông cũng đã được hưởng được sự hiện diện âu yếm và khích lệ của hai ngài. Từ truyền thống lâu đời đó, nhiều nơi đã phát triển lòng tôn kính Thánh Gia, trong đó thánh Giuse đã được tôn kính như là kẻ hộ thủ của Chúa Cứu Thế. Như mọi người đã biết, Đức Giáo Hoàng Lêô XIII đã ký thác việc bảo trợ toàn thể Hội Thánh cho Người.
 
Chú thích:
{1} Tông huấn Redemptoris Custos (Người gìn giữ Đấng Cứu Thế) , về dung mạo và sứ vụ của thánh Giuse trong đời sống Đức Kitô và Hội Thánh, do Đức Gioan Phaolô II ban hành ngày 15.08.1989, để ghi nhớ 100 năm thông điệp Quamquam Pluries của Đức Lêô XIII.
 
Đức thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II
(Bản dịch tiếng Việt của Linh mục Giuse Phan Tấn Thành, OP.)