17/04/2018
385
Những Huấn Giáo Của Đức Gioan Phaolô II Về Đức Maria

Lời người chuyển ngữ: Đức thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II đã dành 70 bài huấn giáo để nói về Đức Maria, kéo dài từ ngày 07.09.1995 đến ngày 13.11.1997.

Mặc dù Tân Ước nhấn mạnh đến sự trinh khiết của Đức Maria lúc cưu mang Chúa Giêsu, nhưng Hội Thánh tin rằng Đức Maria giữ mình trinh khiết suốt đời. Điều này xem ra đã được gói ghém trong tính từ “Trinh Nữ” dành cho Đức Maria (Lc 1,27). Dù sao, đức tin của Hội Thánh đã được diễn tả trong các tín biểu qua các dụng ngữ “trọn đời đồng trinh”, hoặc “đồng trinh trước khi sinh, đang khi sinh và sau khi sinh”.

 ****
 
BÀI 31: ĐỨC MARIA TRỌN ĐỜI ĐỒNG TRINH
 
1.- Hội Thánh luôn bày tỏ niềm tin nơi sự trinh khiết trọn đời của Đức Maria. Những bản văn cổ điển nhất, khi nói tới việc thụ thai Đức Giêsu, đã gọi Đức Maria cách đơn sơ là người “Trinh Nữ”, ra như muốn cho thấy rằng đức tính này là một sự kiện bền bỉ, kéo dài suốt cuộc đời.
 
Các Kitô hữu ở những thế kỷ đầu tiên đã diễn tả niềm xác tín đó qua một từ ngữ bằng tiếng Hy Lạp Aeiparthenos -“trọn đời đồng trinh”- một tính từ được đặt ra để diễn tả cách độc đáo và chính xác thân thế của Đức Maria và cô đọng trong một từ ngữ niềm tin của Hội Thánh vào sự trinh khiết trọn đời của Người. Chúng ta thấy từ ngữ này được sử dụng ở tín biểu thứ hai của thánh Epiphanio, vào năm 374, khi bàn đến việc Nhập Thể: Con Thiên Chúa “đã nhập thể, nghĩa là đã được sinh ra cách hoàn hảo bởi Thánh Maria, trọn đời đồng trinh, nhờ Chúa Thánh Thần” (Ancoratus, 119,5).
 
Từ ngữ “trọn đời đồng trinh” được lặp lại ở Công Đồng Constantinôpôlis II (năm 553), khi khẳng định rằng: Ngôi Lời Thiên Chúa, “được nhập thể và được sinh ra bởi Thánh Mẫu Thiên Chúa Đức Maria vinh hiển và trọn đời đồng trinh”. Đạo lý này còn được xác nhận bởi hai Công Đồng chung, - Latêranô IV (1215) và Lyon II (1274) -, và bởi đoạn văn tuyên bố tín điều Mẹ Lên Trời (1950), trong đó sự trinh khiết trọn đời của Đức Maria được trưng dẫn như là một trong những động lực của việc hồn xác được cất nhắc vào vinh quang trên trời.
 
 2.- Qua một công thức ngắn gọn, truyền thống Hội Thánh đã trình bày Đức Maria như là “trinh khiết trước khi sinh, trong khi sinh, sau khi sinh”; như thế qua việc chỉ định ba giai đoạn, muốn nêu bật rằng Đức Maria không hề bao giờ mất sự trinh khiết.
 
Trong ba giai đoạn vừa kể, đã hẳn sự khẳng định trinh khiết “trước khi sinh” là điểm quan trọng hơn cả, bởi vì liên quan đến việc thụ thai Đức Giêsu và liên hệ trực tiếp tới mầu nhiệm Nhập Thể. Ngay từ đầu, chân lý này đã được kể vào đức tin của Hội Thánh.
 
Sự trinh khiết “trong khi sinh” và “sau khi sinh”, tuy đã hàm chứa trong danh hiệu “trinh nữ” được gán cho Đức Maria ngay từ đầu của Hội Thánh, nhưng chỉ trở thành đối tượng cho sự đào sâu đạo lý từ khi mà có người bắt đầu tỏ dấu hoài nghi. Đức Giáo Hoàng Ormisđa xác định rằng “Con Thiên Chúa trở thành Con Người, được sinh ra trong thời gian theo cách thức của một người, mở lòng dạ của mẹ mình vào lúc sinh và, do quyền năng của Thiên Chúa, đã không làm phá hủy sự trinh khiết của người mẹ”. Đạo lý này đã được Công Đồng Vaticanô II xác nhận, khi nói rằng người Con đầu lòng của Đức Maria “đã không làm suy giảm nhưng đã thánh hiến sự tinh tuyền khiết trinh của Người” (HT 57).
 
Về sự trinh khiết sau khi sinh, thì tiên vàn cần phải lưu ý là không có lý do gì để nghĩ rằng ý định giữ mình đồng trinh, được Đức Maria bày tỏ vào lúc Truyền Tin (Lc 1,34), sau đó lại thay đổi. Ngoài ra, ý nghĩa trực tiếp của những lời mà Chúa Giêsu từ thập giá ngỏ với Đức Maria và với môn đệ yêu dấu -“Người nữ ơi, đây là con của bà”; “đây là mẹ của con” (Ga 19,26)-, giả thiết rằng lúc đó Đức Maria không có đứa con nào khác đang có mặt.
 
Những người phủ nhận sự trinh khiết của Đức Maria sau khi sinh cho rằng có thể tìm thấy chứng cớ ở nơi từ ngữ “con đầu lòng” mà Phúc Âm đã gắn cho Đức Giêsu (Lc 2,7), ra như giả thiết rằng sau đó Đức Maria còn có những con khác. Tuy nhiên tiếng “con đầu lòng” chỉ có nghĩa là đứa con không có “anh chị nào” trước, chứ tự nó không đả động gì đến những đứa con theo sau. Ngoài ra, thánh sử muốn nhấn mạnh tới đặc tính này của Chúa Giêsu, bởi vì, khi sinh người con đầu lòng, luật Do Thái đã đòi hỏi phải tuân giữ một vài điều, bất kể sau đó bà mẹ có sinh thêm con khác nữa hay không. Do đó, đứa con một cũng bị lệ thuộc vào những điều truyền đó, bởi vì nó “được sinh ra trước hết” (xc. Lc 2,23).
 
3.- Theo một vài tác giả, sự trinh khiết của Đức Maria sau khi sinh cũng bị phủ nhận bởi những đoạn văn Phúc Âm nói tới bốn “anh em của Đức Giêsu”: Giacôbê, Giuse, Simon và Giuđa (Mt 13,55-56; Mc 6,3), và một vài chị em.
 
Nên biết rằng, trong tiếng Do Thái cũng như trong tiếng Arameo, không có một danh từ riêng để ám chỉ người “anh em họ”; vì thế từ ngữ “anh em” và “chị em” có một nghĩa rất rộng bao hàm nhiều cấp độ họ hàng khác nhau. Trên thực tế, tiếng “các anh em của Đức Giêsu” chỉ về những “người con” của một bà Maria đi theo Đức Kitô (xc. Mt 27,56), bà này được xác định như là “bà Maria khác” (Mt 28,1). Đó là những họ hàng thân thích của Đức Giêsu, theo một dụng ngữ khá thông dụng trong Cựu Ước (xc. GLCG, số 500).
 
Như vậy Đức Maria rất thánh là người “trọn đời đồng trinh”. Đặc ân này là hậu quả của chức làm Mẹ Thiên Chúa, đã hiến dâng suốt đời Người cho sứ mạng cứu chuộc của Đức Kitô.
 
Đức thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II
(Bản dịch tiếng Việt của Linh mục Giuse Phan Tấn Thành, OP.)