20/04/2018
210
Những Huấn Giáo Của Đức Gioan Phaolô II Về Đức Maria

Lời người chuyển ngữ: Đức thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II đã dành 70 bài huấn giáo để nói về Đức Maria, kéo dài từ ngày 07.09.1995 đến ngày 13.11.1997.

Khi tự xưng là “nữ tỳ của Chúa”, Đức Maria đặt mình vào số những đầy tớ của Chúa trong Cựu Ước được gọi để phục vụ Dân Chúa. Dưới ánh sáng của Tân Ước, những lời đó cũng tiên báo thái độ căn bản của Chúa Giêsu, Đấng đã đến để phục vụ chứ không phải để được phục vụ. Đức Maria sẽ kết hợp với Con trong việc tuân hành ý muốn của Chúa Cha.
****

 
BÀI 32: NỮ TỲ VÂNG PHỤC THIÊN CHÚA
 
 1.- Những lời của Đức Maria vào lúc Truyền Tin: “Này đây, tôi là nữ tỳ của Chúa, xin hãy xảy ra nơi tôi điều mà Ngài đã nói” (Lc 1,38) làm nổi bật một tâm tình đặc trưng của lòng đạo đức người Do Thái. Vào lúc khởi nguyên của Cựu Ước, ông Môisen khi đáp lại tiếng Chúa kêu gọi, đã bày tỏ rằng mình là tôi tớ của Chúa (xc. Xh 4,10; 14,31). Vào lúc bắt đầu Tân Ước, Đức Maria cũng đáp lại Thiên Chúa bằng một hành vi tự do suy phục và tự tình phó thác theo ý của Chúa, qua việc bày tỏ tâm tình muốn là ”nữ tỳ của Chúa ”.
 
Đặc trưng “tôi tớ” {1} của Chúa vốn đã là một mẫu số chung trong Cựu Ước áp dụng cho những người được Chúa gọi thi hành một sứ vụ nhằm phục vụ dân ưu tuyển: ông Abraham (St 26,24), ông Isaac (St 24,14), ông Giacóp (Xh 32,13; Ed 37,25), ông Giôsuê (Gs 24,29), ông Đavít (2 Sm 7,8 v.v...).

Cũng thuộc vào số “tôi tớ” các ngôn sứ và tư tế, những người được ủy thác nhiệm vụ đào tạo một dân tộc trung thành phục vụ Thiên Chúa. Sách Isaia đã đề cao nơi sự tận tụy của “người tôi tớ đau khổ” một mẫu gương trung thành với Thiên Chúa với niềm hy vọng cứu thoát dân chúng ra khỏi tội lỗi (Is 42 – 53). Những mẫu gương về sự trung thành cũng nhìn thấy nơi một vài phụ nữ, tựa như là hoàng hậu Esther, trước khi đứng ra làm trung gian để can thiệp cứu dân Do Thái, bà ta đã dâng lời cầu khẩn cùng Thiên Chúa, trong đó nhiều lần bà tự xưng là “nữ tỳ của Ngài” (Et 4,17).
 
2.- Đức Maria, kẻ “đầy ơn phước”, khi nhận mình là “nữ tỳ của Chúa”, đã bày tỏ quyết tâm muốn đích thân thi hành cách hoàn hảo sự phục vụ mà Thiên Chúa đang chờ đợi nơi Dân của Ngài.
 
Những lời: “này đây, tôi là nữ tỳ của Chúa”, tiên báo cho Đấng mà một ngày kia sẽ nói về mình rằng: “Con Người không đến để được phục vu, nhưng để phục vụ và dâng mạng sống mình cho nhiều người được cứu chuộc” (Mc 10,45; xc. Mt 20,28). Như thế Chúa Thánh Thần đã thực hiện một sự hòa hợp tâm trạng giữa bà Mẹ với người Con, nhằm giúp cho Đức Maria chấp nhận trọn vẹn vai trò làm mẹ bên cạnh Đức Giêsu, đồng hành với Người trong sứ mạng làm tôi tớ.
 
Trong suốt cuộc đời, Đức Giêsu luôn luôn duy trì ý chí phục vụ: thực vậy, là Con Thiên Chúa, lẽ ra Người có đủ lý do để được phục vụ. Khi gán cho mình danh hiệu “Con Người”, được sách Đaniel phát biểu là: “tất cả mọi dân, mọi nước và mọi ngôn ngữ sẽ phục vụ Ngài” (Đn 7,14), lẽ ra Người có quyền đòi hỏi sự thống lãnh người khác. Thế nhưng, ngược với não trạng của thời đại được biểu lộ qua việc các môn đệ khao khát được chiếm chỗ ngồi trên cùng (xc. Mc 9,34) và qua việc ông Phêrô phản đối lúc Người rửa chân cho các môn đệ (xc Ga 13,6), Đức Giêsu không muốn được phục vụ, nhưng mà ước ao phục vụ cho đến nỗi trao hiến chính mạng sống của mình để cứu chuộc nhân loại.
 
3. Kể cả Đức Maria, cho dù nhận biết chức phẩm cao sang của mình, nhưng vào lúc thiên thần truyền tin, Người đã tự ý tuyên bố rằng mình là “nữ tỳ của Chúa”. Quyết tâm phục vụ này cũng bao gồm sự phục vụ tha nhân, như ta thấy qua việc gắn liền biến cố Truyền Tin và Thăm Viếng: được thiên thần báo tin bà Isave đang chờ đợi sinh con, Đức Maria đã “vội vã” (Lc 1,39) lên đường về Giuđêa để giúp đỡ bà chị họ của mình chuẩn bị sinh con. Đức Maria cống hiến cho các Kitô hữu thuộc mọi thời đại một khuôn mẫu cao vời của việc phục vụ.
 
Những lời: “Xin hãy xảy đến nơi tôi điều Ngài đã nói” (Lc 1,38) chứng tỏ nơi Đấng đã tuyên bố là nữ tỳ của Chúa một sự hoàn toàn tuân phục ý muốn của Chúa. Thể văn ước nguyện genoito “xin hãy xảy đến” do Luca sử dụng, không những bày tỏ sự chấp nhận, nhưng còn bày tỏ sự xác tín thâu nhận kế hoạch của Thiên Chúa, coi như là của mình, huy động hết mọi năng lực bản thân.
 
4.- Khi thuận nhận ý muốn của Thiên Chúa, Đức Maria đã tiên báo và đồng hóa với thái độ của Đức Kitô, Đấng mà lúc vào trần gian, -theo như tác giả của thư gởi Do Thái-, đã thưa rằng: “Lạy Chúa, Ngài đã không muốn hy tế và hiến lễ, nhưng đã tạo dựng cho con một thân xác… vì thế con đã nói: Này đây, con đến… để làm theo ý Ngài” (Dt 10,5-7; Tv 39,7-9).
 
Đồng thời, sự thuận lãnh của Đức Maria cũng loan báo tâm tình thuận lãnh của Đức Giêsu trong suốt sứ vụ công khai cho đến núi Calvario. Một ngày kia Đức Kitô sẽ nói: “lương thực của Tôi là làm theo ý của Đấng đã sai Tôi và hoàn tất công tác của Ngài” (Ga 4,34). Trong chiều hướng đó, Đức Maria đã lấy ý định của Thiên Chúa làm nguyên tắc chỉ đạo cho tất cả cuộc sống của mình, tìm trong ý Chúa sức mạnh cần thiết để thực hiện sứ mạng đã được ủy thác.
 
Nếu vào lúc Truyền Tin, Đức Maria chưa biết hết những hy sinh sẽ kèm theo sứ vụ của Đức Kitô, nhưng lời tiên báo của ông Simêon đã hé mở phần nào số phận đau thương của con mình (Lc 2,34-35).
 
Đức Trinh Nữ sẽ liên kết chặt chẽ vào số phận đó qua việc thông dự trong tâm hồn. Với lòng hoàn toàn tuân phục thánh ý Chúa, Đức Maria cũng sẵn sàng sống tất cả những gì mà tình yêu Chúa đã phác họa cho mình, kể cả “lưỡi gươm” sẽ đâm thâu qua tâm hồn.
 
Chú thích:
{1} “Tôi tớ” hay “đầy tớ” cùng nghĩa; khi áp dụng cho phái nữ thì dịch là “nữ tỳ”.
 
Đức thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II
(Bản dịch tiếng Việt của Linh mục Giuse Phan Tấn Thành, OP.)