26/04/2018
345
Những Huấn Giáo Của Đức Gioan Phaolô II Về Đức Maria

Lời người chuyển ngữ: Đức thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II đã dành 70 bài huấn giáo để nói về Đức Maria, kéo dài từ ngày 07.09.1995 đến ngày 13.11.1997.

Trong trình thuật Thăm Viếng (Lc 1,39-45), thánh Luca không chỉ mô tả một cuộc viếng thăm tình nghĩa. Khi phân tích lối hành văn, ta thấy thánh sử muốn giới thiệu Đức Maria như kẻ mang Tin Mừng về sự xuất hiện Đấng Mêsia. Đức Maria ra như chuẩn bị những chặng đường truyền giáo của Con mình, Đấng rao giảng Tin Mừng và đổ tràn Thánh Thần. Ngoài ra, qua lời ca ngợi của bà Êlisabét, chúng ta nhận biết cội nguồn hạnh phúc của Đức Maria là đức tin vào Lời Chúa.
****

 
BÀI 34: MẦU NHIỆM THĂM VIẾNG KHAI MÀO SỨ MẠNG CỦA ĐẤNG CỨU THẾ
 
1.- Khi thuật lại cảnh Thăm Viếng, thánh Luca cho thấy rằng hồng ân Chúa Nhập Thể, sau khi đã tràn ngập Đức Maria, thì cũng mang lại sự cứu rỗi và vui mừng cho nhà bà Elisabét. Đấng Cứu Chuộc nhân loại, nằm trong lòng của Mẹ mình, đã đổ tràn Thánh Thần, như vậy đã tỏ mình khi vừa mới đến trần gian.
 
Khi tả việc lên đường của Đức Maria về miền Giuđêa, thánh sử dùng động từ Hy Lạp “anistemi” có nghĩa là “chỗi dậy, di chuyển”. Động từ này đã được Phúc Âm dùng để ám chỉ sự sống lại của Chúa Giêsu (Mc 8,31; 9,9.31; Lc 24,7.46) hoặc là những hành động bao hàm một sự thúc đẩy tinh thần (Lc 5,27.28; 15,18.20); vì thế, chúng ta có thể giả thiết rằng qua hạn từ này thánh Luca muốn nêu bật sự thúc đẩy mãnh liệt đưa Đức Maria, dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, mang Chúa Cứu Thế đến cho nhân loại.
 
2.- Ngoài ra, bản văn Phúc Âm nói rằng Đức Maria lên đường “vội vàng” (Lc 1,39). Kể cả sự ghi chú “về miền núi” (Lc 1,39) trong mạch văn của Luca còn muốn nói cái gì hơn là một địa điểm địa lý, bởi vì nó gợi lên sự liên tưởng tới người mang tin mừng được ngôn sứ Isaia diễn tả: “đẹp thay trên miền núi những bước chân của người mang tin mừng loan báo bình an, sứ giả tin mừng cứu rỗi nói với Sion: Thiên Chúa của ngươi hiển trị” (Is 52,7).
 
Cũng như thánh Phaolô đã nhận ra sự hoàn tất đoạn văn tiên tri đó nơi việc truyền giảng Phúc Âm (Rm 10,15), thì dường như thánh Luca cũng mời gọi chúng ta hãy nhìn nơi Đức Maria như là kẻ “rao giảng tin mừng” tiên phong, phổ biến tin vui, khai trương cho những cuộc hành trình truyền giáo của Con mình.
 
Sau cùng, mục tiêu chuyến hành trình của Đức Trinh Nữ cũng mang ý nghĩa đặc biệt: đó là từ Galilê hướng về Giuđêa, cũng tương tự như con đường truyền giáo của Chúa Giêsu (xc. 9,51).
 
Thực vậy, với việc thăm viếng bà Êlisabét, Đức Maria đã thực hiện việc khai mào Sứ vụ của Chúa Giêsu. Người đã cộng tác vào công trình cứu chuộc của Con mình ngay từ lúc bắt đầu chức vụ làm mẹ; do đó, Đức Maria trở thành mẫu gương cho những kẻ trong Giáo Hội lên đường để mang ánh sáng và niềm vui của Chúa Kitô cho những người mọi nơi mọi thời.
 
3.- Cuộc gặp gỡ bà Êlisabét mang những tính chất của một biến cố cứu độ hân hoan, vượt quá cảm tình bộc phát của tình nghĩa gia đình. Tại nơi mà sự câm nín của ông Dacaria đã đánh dấu mối nghi nan, thì Đức Maria đã bộc phát niềm vui của đức tin mau mắn: “Khi vào nhà ông Dacaria, Người đã chào bà Êlisabét” (Lc 1,40).
 
Thánh Luca thuật lại rằng “khi bà Êlisabét vừa nghe lời chào của bà Maria, Hài Nhi liền nhảy mừng trong lòng” (Lc 1,41). Lời chào của Đức Maria đã gợi lên nơi đứa con của bà Êlisabét sự nhảy mừng: việc Đức Giêsu, nhờ bà Mẹ của mình, vào nhà bà Êlisabét, mang lại cho vị ngôn sứ tương lai niềm hân hoan mà Cựu Ước loan báo như là dấu chỉ hiện diện của Đấng Mêsia.
Khi nghe tiếng chào của Đức Maria, niềm vui của thời Mêsia cũng cuốn cả bà Êlisabét, “bà được đầy Chúa Thánh Thần và lớn tiếng thốt lên: ‘Bà đáng chúc tụng hơn mọi người nữ, và hoa trái của lòng bà đáng được chúc tụng’!” (Lc 1,41-42).
 
Nhờ ơn trên soi sáng, bà Êlisabét được rằng Đức Maria cao cả hơn bà Rakhen và bà Giuđitha, những hình ảnh tiên trưng của Người trong Cựu Ước {1}. Người được chúc tụng hơn các phụ nữ tại vì hoa trái đang mang trong lòng, đó là Đức Giêsu vị Mêsia.
 
4.- Sự cao rao của bà Êlisabét, “một cách lớn tiếng”, bày tỏ một niềm hoan hỉ đạo đức, mà kinh “Kính Mừng” vẫn còn làm vang lên trên môi của các tín hữu, như là một ca khúc ngợi khen của Hội Thánh vì những công trình vĩ đại mà Đấng Tối Cao đã thực hiện nơi Thân Mẫu của Con mình. Khi ca ngợi Đức Maria là kẻ “được chúc tụng hơn các phụ nữ”, bà Êlisabét đã cho biết rằng lý do hạnh phúc của Đức Maria là vì đã tin: “Phúc thay kẻ đã tin rằng những lời Chúa phán sẽ hoàn tất” (Lc 1,45). Sự cao cả và niềm vui của Đức Maria bắt nguồn từ chỗ Người là kẻ đã tin {2}.
 
Đứng trước sự cao cả của Đức Maria, bà Êlisabét cũng cảm thấy được niềm vinh dự của mình vì cuộc viếng thăm: “Vì đâu mà mẹ của Chúa tôi đến với tôi?” (Lc 1,43). Qua những lời “Chúa tôi” bà Êlisabét nhìn nhận rằng Con của bà Maria là Vua, là Đấng Mêsia. Thực vậy, trong Cựu Ước, tiếng “Chúa tôi” được sử dụng khi thưa với nhà vua (xc. 1 V 1,13-20) hay để nói về Vua-Mêsia (Tv 110,1). Thiên sứ đã nói về Đức Giêsu như sau: “Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngôi báu Đavít, tổ tiên của Người” (Lc 1,32). Bà Êlisabét “đầy Thánh Thần”, cũng đã ý thức như vậy. Về sau, vinh quang phục sinh của Đức Kitô sẽ cho thấy cần phải hiểu tước vị này theo một nghĩa khác, theo nghĩa siêu việt là “Đức Chúa” {3} (xc. Ga 20,28; Cv 2,34-36).
 
Qua lời tán tụng cảm phục, bà Êlisabét mời gọi chúng ta hãy biết trân trọng tất cả những gì mà sự hiện diện của Đức Trinh Nữ mang lại cho đời sống của mỗi người tín hữu.
 
Trong cuộc Thăm Viếng, Đức Trinh Nữ đã mang lại cho thân mẫu của Gioan chính Đức Kitô, Đấng đổ tràn Thánh Thần. Vai trò trung gian đó đã được làm nổi bật qua những lời của bà Êlisabét: “Này, khi lời chào của em vừa đến tai tôi, thì con trẻ đã nhảy mừng ở trong bụng tôi” (Lc 1,44). Sự can thiệp của Đức Maria đã mang lại hồng ân Thánh Thần, ra như là khai mào cho lễ Ngũ Tuần, xác nhận một lần nữa rằng sự hợp tác của Đức Maria, được khởi đầu với biến cố Nhập Thể, sẽ còn kéo dài suốt công trình cứu chuộc của Thiên Chúa.
 
Chú thích:
{1} Xc. bài 15.
{2} Xc. bài 25.
{3} Trong ngôn ngữ Cựu Ước, “Chúa tôi” nhiều khi được dùng để xưng hô với Đức Vua (hoặc: Chúa Thượng). Tuy nhiên, trong Tân Ước, các Kitô hữu đã tuyên xưng Đức Kitô là “Chúa” (hoặc Đức Chúa), bởi vì nhìn nhận thiên tính của Người, ngang hàng với Đức Chúa Giavê (Ađônai) trong Cựu Ước, xc. GLCG, số 446-451.
 
Đức thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II
(Bản dịch tiếng Việt của Linh mục Giuse Phan Tấn Thành, OP.)