29/04/2018
176
Những Huấn Giáo Của Đức Gioan Phaolô II Về Đức Maria

Lời người chuyển ngữ: Đức thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II đã dành 70 bài huấn giáo để nói về Đức Maria, kéo dài từ ngày 07.09.1995 đến ngày 13.11.1997.

Trong bài ca Magnificat (Lc 1,46-55), Đức Maria ca tụng kỳ công mà Thiên Chúa đã thực hiện ở nơi mình, đó là mầu nhiệm Nhập Thể. Đồng thời, bài ca này tuyên dương Thiên Chúa là Đấng “Toàn Năng”, “Lân Tuất”: Người lưu tâm đến những kẻ khó nghèo khiêm tốn. Đức Maria không những chỉ cảm tạ Thiên Chúa vì những đặc ân dành cho bản thân mình, nhưng còn chúc tụng Người vì tấm lòng trung tín và quảng đại dành cho dân Israel và toàn thể nhân loại. Đối lại, bài ca này mở màn cho những lời chúc tụng mà Hội Thánh dâng lên Đức Maria, kẻ có phúc vì đã tin.
****

 
BÀI 35: TRONG KINH MAGNIFICAT, ĐỨC MARIA CA NGỢI KỲ CÔNG CỦA THIÊN CHÚA
 
1.- Gợi hứng từ truyền thống Cựu Ước, qua bài ca Magnificat Đức Maria cất lên lời ca tụng những kỳ công mà Thiên Chúa đã thực hiện nơi mình. Bài ca này là lời Đức Trinh Nữ đáp lại mầu nhiệm Truyền Tin: thiên sứ đã mời Người hãy vui lên, giờ đây Đức Maria bày tỏ sự hớn hở vui mừng trong Thiên Chúa Đấng Cứu Độ. Niềm vui của Người phát sinh từ chỗ cảm nghiệm nơi bản thân cái nhìn ưu ái mà Thiên Chúa đã dành cho mình, một thụ tạo nghèo nàn và không có ảnh hưởng gì trong lịch sử.
 
Qua lời Magnificat (tiếng Latinh chuyển dịch một từ Hy Lạp với ý nghĩa tương tự), Đức Maria đã tán dương sự cao cả của Thiên Chúa, Đấng mà qua lời báo của thiên sứ, đã bày tỏ sự toàn năng, vượt xa những niềm trông mong của dân Cựu Ước, vượt xa cả những ước ao quý trọng nhất trong tâm hồn con người.
 
Đứng trước Thiên Chúa toàn năng và lân tuất, Đức Maria bày tỏ cảm tưởng bé nhỏ của mình: “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng trong Thiên Chúa Đấng cứu độ tôi, bởi vì Người đã đoái nhìn phận nữ tỳ hèn mọn” (Lc 1,47.48). Từ ngữ “tapéinosis” có lẽ đã vay mượn từ bài ca của bà Anna mẹ của ông Samuel. Nó nói lên sự “nhục nhã” “hèn hạ” của một người đàn bà son sẻ bày tỏ nỗi khổ tâm của mình với Chúa (xc. 1 Sm 1,11). Với lời lẽ như vậy, Đức Maria bộc lộ tình cảnh nghèo nàn và biết rằng mình bé nhỏ trước mặt Chúa, Đấng đã để mắt nhìn đến mình, một thiếu nữ tầm thường ở Nadarét, và đã gọi mình trở thành người Mẹ của Đấng Mesia.
 
2.- Những lời “từ nay hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc” (Lc 1,48) đã tiếp nối vào câu nói của bà Isave chúc tụng Đức Maria là “kẻ có phúc” (Lc 1,45). Bài ca đã tiên báo cách táo bạo, sự tuyên dương càng ngày càng lan rộng trải qua dòng lịch sử. Đồng thời bài ca muốn nói lên lòng tôn kính đặc biệt dành cho Thân Mẫu Đức Giêsu về phía cộng đoàn các Kitô hữu vào thế kỷ thứ I. Kinh Magnificat là khởi điểm của nhiều hình thức tôn kính mà thế hệ này qua thế hệ khác đã kéo dài trong Hội Thánh lòng mộ mến đối với Trinh Nữ Nadarét.
 
3.- “Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả, danh Người là Thánh: từ đời nọ tới đời kia Chúa hằng thương xót những ai kính sợ Người” (Lc 1,49-50).
 
Đâu là những “điều cao cả” mà Đấng Toàn Năng đã thực hiện ở nơi Đức Maria? Hạn từ này đã được sử dụng trong Cựu Ước để ám chỉ công cuộc giải thoát Dân Israel ra khỏi Ai Cập và khỏi Babilonia; còn trong kinh Magnificat, nó ám chỉ biến cố nhiệm mầu của việc thụ thai trinh khiết Đức Giêsu, xảy ra tại Nadarét sau khi thiên sứ loan tin.
 
Trong kinh Magnificat, một bài ca đầy tính chất thần học bởi vì bày tỏ cảm nghiệm của Đức Maria về khuôn mặt của Thiên Chúa, Đấng không những chỉ là Toàn Năng, không có điều gì mà Người không làm được, như thiên sứ Gabriel đã nói (xc. Lc 1,37), nhưng còn là Hằng Thương Xót, tỏ lòng lân tuất và chung thủy đối với hết mọi người.
 
4.- “Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh dẹp tan phường lòng trí kiêu căng; Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Người nâng cao những kẻ khiêm nhường; kẻ đói nghèo, Chúa ban của đầy dư, người giàu có, lại đuổi về tay trắng” (Lc 1,51-53).
 
Khi nhìn lại lịch sử dưới cặp mắt khôn ngoan, Đức Maria mời gọi chúng ta hãy khám phá ra những tiêu chuẩn hành động nhiệm mầu của Thiên Chúa. Chúa đã lật ngược tất cả những phán đoán của thế gian, Người đã đến trợ giúp những người nghèo nàn và bé nhỏ, chẳng màng chi đến những người giàu sang quyền thế, và lạ thay, Người đổ tràn ân phúc cho những người khiêm tốn biết ký thác cuộc đời nơi Chúa (xc. Thông điệp Thân Mẫu Đấng Cứu Thế, số 37).
 
Những lời của bài ca này, một đàng trình bày cho chúng ta thấy nơi Đức Maria một khuôn mẫu cụ thể và tuyệt vời, đàng khác cho chúng ta biết rằng chính tâm hồn khiêm tốn mới lôi cuốn lòng lân tuất của Thiên Chúa.

5.- Sau cùng, bài ca đã tán dương sự hoàn tất những lời hứa và việc Thiên Chúa trung tín với dân tuyển chọn: “Chúa độ trì Israel tôi tớ của Người, như đã hứa cùng cha ông chúng ta vì Người đã nhớ lại lòng thương xót dành cho tổ phụ Abraham và cho con cháu đến muôn đời” (Lc 1,54-55).
 
Đức Maria được đầy dẫy những hồng ân Thiên Chúa, nhưng Người không chỉ nhìn lại bản thân của mình; Người hiểu rằng những hồng ân này biểu lộ lòng lân tuất của Chúa đối với toàn thể dân mình. Thiên Chúa đã hoàn tất nơi Người những lời hứa một cách trung thành và quảng đại vô bờ bến.
 
Dù rằng kinh Magnificat đã được gợi hứng từ Cựu Ước và linh đạo của thiếu nữ Sion, nhưng nó vượt xa những bản văn tiên tri đó, bởi vì nó cho thấy nơi Đấng “đầy ơn phước” khởi đầu của một cuộc can thiệp của Thiên Chúa vượt xa những niềm hy vọng của Israel về Đấng Mêsia: đó là mầu nhiệm thánh của Ngôi Lời Nhập Thể.

 
Đức thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II
(Bản dịch tiếng Việt của Linh mục Giuse Phan Tấn Thành, OP.)