02/05/2018
152
Những Huấn Giáo Của Đức Gioan Phaolô II Về Đức Maria

Lời người chuyển ngữ: Đức thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II đã dành 70 bài huấn giáo để nói về Đức Maria, kéo dài từ ngày 07.09.1995 đến ngày 13.11.1997.

Trình thuật tả lại việc Chúa giáng sinh tại Bêlem gợi lên vài đặc trưng của sứ vụ tương lai của Chúa Cứu Thế: nếp sống khó nghèo; bị đồng bào khước từ. Đức Maria cũng chia sẻ thân phận đó. Mặt khác, Người cũng chia sẻ niềm vui của các mục đồng, tượng trưng cho lớp người khiêm tốn, được Thiên Chúa lân tuất đặc biệt chiếu cố. Người cũng trở thành mẫu gương chiêm niệm cho Hội Thánh, lưu giữ những mầu nhiệm trong lòng để nghiền ngẫm và loan truyền.
****


 
BÀI 36: ĐỨC MARIA LÚC SINH CHÚA GIÊSU
 
1.- Khi thuật lại việc Chúa ra đời, thánh sử Luca đã kể lại một vài dữ kiện giúp cho chúng ta hiểu biết thêm về ý nghĩa của biến cố này.
 
Trước tiên, thánh sử nói tới một cuộc kiểm tra dân số do Hoàng đế César Augustô truyền lệnh, bắt buộc ông Giuse, “từ dòng tộc vua Đavít”, và bà Maria vợ mình phải đi về “thành của vua Đavít tên là Belem” (Lc 2,4).
 
Khi thuật lại cho chúng ta biết những hoàn cảnh của cuộc hành trình và việc sinh hạ, thánh sử trình bày một tình hình khổ cực và nghèo khó, hé mở cho thấy một vài đặc tính của vương quyền Đấng Mêsia: một vương quyền không có danh dự và quyền bính trần thế, đi theo Đấng sẽ tuyên bố về mình trong cuộc đời công khai rằng: “Con Người không có nơi dựa đầu” (Lc 9,58).
 
2.- Trình thuật của thánh Luca còn trình bày cho chúng ta một vài chi tiết, thoạt tiên xem ra không quan trọng cho lắm, với chủ ý thúc đẩy người đọc hãy đi vào sâu hơn về mầu nhiệm Chúa giáng sinh và về những tâm tình của Đấng sinh hạ Con Thiên Chúa.
 
Khi thuật lại cách sơ sài việc sinh hạ Chúa Giêsu, thánh sử đã mô tả Đức Maria thông dự sâu sắc vào điều đang diễn ra ở nơi Người, “bà đã hạ sinh con trai đầu lòng của mình, quấn khăn và đặt trong một máng cỏ...” (Lc 2,7). Hành động của Đức Trinh Nữ là kết quả của tâm tình hoàn toàn sẵn sàng hợp tác với chương trình của Thiên Chúa, đã biểu lộ vào lúc Truyền Tin với những lời: “Xin hãy xảy ra nơi tôi điều mà Ngài đã nói” (Lc 1,38).
 
Đức Maria đã sống cảm nghiệm của việc sinh con trong một điều kiện cực kỳ khó nghèo: bà không thể dâng cho Con Thiên Chúa những gì mà các bà mẹ thường quen cung cấp cho trẻ sơ sinh của mình. Trái lại, Người đã phải đặt con “trong một máng cỏ”, trong một cái nôi biến báo, hoàn toàn trái ngược với thiên chức của “Con Đấng Tối Cao”.
 
3.- Phúc Âm ghi chú rằng “không còn chỗ cho họ trong quán trọ” (Lc 2,7). Đây là một câu nói nhắc tới bản văn của lời tựa của thánh Gioan: “Nhưng người nhà đã không đón tiếp Người” (1,11), ra như tiên báo nhiều lần bị khước từ mà Chúa Giêsu sẽ phải chịu đựng trong suốt cuộc đời dương thế.
 
Khi nói “không còn chỗ cho họ” thì hiểu là sự khước từ gồm cả người con lẫn bà mẹ, và cho thấy Đức Maria đã được liên kết với số phận đau khổ của Con mình và tham gia sứ mạng cứu chuộc.
 
Bị “người nhà” bỏ rơi, Chúa Giêsu đã được tiếp đón bởi những mục đồng, hạng người quê mùa và tai tiếng, nhưng họ đã được Chúa chọn để trở thành những người đầu tiên tiếp nhận tin vui Chúa Cứu Thế giáng trần.

Sứ điệp mà Thiên thần ngỏ với họ là một lời mời hãy vui lên: “Này đây tôi báo cho các bạn một tin vui mừng, cũng sẽ là nỗi vui của toàn dân” (Lc 2,10), kèm theo một lời phấn chấn hãy vượt qua mọi sợ hãi: “Các bạn đừng sợ”.
 
Thực vậy, cũng như đã xảy ra vào lúc Truyền Tin, đối với các mục đồng thì tin Chúa Giêsu giáng sinh là một dấu hiệu trọng đại của lòng Chúa lân tuất với loài người. Nơi Chúa Cứu Chuộc xuất hiện dưới dạng nghèo khó trong hang Belem, ta có thể nhận thấy một lời mời hãy tin tưởng tiến lại gần với Đấng là nguồn hy vọng của nhân loại.
 
Bài ca của các thiên sứ: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời cao thẳm và bình an dưới thế cho những người Chúa yêu thương”, và cũng có thể dịch là: “cho những người thành tâm thiện chí” (Lc 2,14), bày tỏ cho các mục đồng điều mà Đức Maria đã diễn tả trong kinh Magnificat. Chúa Giêsu sinh ra là dấu hiệu của tình thương lân tuất của Thiên Chúa, được biểu lộ cách đặc biệt cho những người khiêm tốn khó nghèo.
 
4.- Đáp lại lời mời của Thiên sứ, các mục đồng trả lời cách hoan hỉ và nhanh nhẩu: “Nào chúng ta hãy tiến về Belem, chúng ta hãy xem điều mà Thiên Chúa đã tỏ cho chúng ta biết” (Lc 2,15).
 
Cuộc tìm kiếm của họ đã không uổng công: “Họ đã gặp thấy Đức Maria, và ông Giuse cùng với Hài Nhi” (Lc 2,16). Như Công Đồng Vaticanô II đã nhắc lại, “Thân Mẫu Thiên Chúa đã hoan hỉ tỏ cho họ… Con đầu lòng của mình ” (HT 57). Đây là một biến cố quyết liệt cho cuộc đời của họ.
 
Nỗi ước muốn tự nhiên của các mục đồng muốn thuật lại “điều đã được nói về Hài Nhi” (Lc 2,17), sau cảm nghiệm tuyệt diệu được gặp gỡ Thân Mẫu cùng với Hài Nhi, gợi ý cho các nhà truyền giảng Phúc Âm của hết mọi thời đại về tầm quan trọng, -phải nói là sự cần thiết thì mới đúng-, của một mối quan hệ tinh thần sâu đậm với Đức Maria để biết rõ Đức Giêsu hơn, ngõ hầu trở nên những người phấn khởi loan truyền Tin Mừng cứu độ.
 
Đứng trước những biến cố trọng đại này, thánh sử Luca nói cho chúng ta biết rằng Đức Maria “đã lưu giữ hết những điều này, suy niệm chúng trong tâm hồn” (Lc 2,19). Đang khi mà các mục đồng bước từ chỗ sợ hãi đến chỗ kinh ngạc và ngợi khen, thì Đức Trinh Nữ nhờ lòng tin của mình, đã duy trì cách sống động kỷ niệm về những biến cố liên quan đến Con của mình, và Người đào sâu chúng bằng cách đối chiếu trong “con tim” của mình, nghĩa là nơi thâm tâm sâu thẳm nhất của con người. Nhờ thế, Đức Maria đã gợi cho một bà mẹ khác, tức là Hội Thánh, hãy biết trân trọng hồng ân và bổn phận suy niệm và suy tư thần học, ngõ hầu có thể đón nhận mầu nhiệm cứu độ, hiểu biết nó sâu rộng hơn, và loan truyền nó với nhiệt tình mới mẻ cho mọi người thuộc mọi thời đại {1}.
 
Chú thích:
{1} Sách Giáo Lý Hội thánh Công Giáo cung cấp thêm chất liệu để suy niệm về Mầu nhiệm Chúa giáng sinh ở các số 525-526; 456-460.

 
Đức thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II
(Bản dịch tiếng Việt của Linh mục Giuse Phan Tấn Thành, OP.)