17/05/2018
321
Những Huấn Giáo Của Đức Gioan Phaolô II Về Đức Maria

Lời người chuyển ngữ: Đức thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II đã dành 70 bài huấn giáo để nói về Đức Maria, kéo dài từ ngày 07.09.1995 đến ngày 13.11.1997.

Trong trình thuật tiến dâng Đức Giêsu trong Đền Thờ, chúng ta thấy sự có mặt của hai phụ nữ: Đức Maria và bà Anna. Đức Maria dâng tiến Đức Giêsu cho Thiên Chúa, tiên báo việc liên kết với hy lễ thập giá của Chúa Kitô mang lại ơn cứu độ cho nhân loại. Bà Anna tượng trưng cho biết bao phụ nữ dâng hiến cuộc đời để phụng sự Chúa qua việc cầu nguyện và thực hành các nhân đức.
****

 
BÀI 41: TRONG CUỘC TIẾN DÂNG CHÚA GIÊSU VÀO ĐỀN THỜ,
CHÚA BÀY TỎ SỰ HỢP TÁC CỦA “NGƯỜI NỮ” VÀO VIỆC CỨU CHUỘC
 
1.- Những lời của cụ Simêon báo cho Đức Maria việc Người tham gia vào sứ mạng cứu chuộc của Đấng Mêsia, đã làm sáng tỏ vai trò của người phụ nữ trong mầu nhiệm cứu chuộc.
 
Thực vậy, Đức Maria không phải chỉ là một cá nhân mà thôi, nhưng còn là “thiếu nữ Sion” {1}, người phụ nữ “mới” được đặt bên cạnh Đấng Cứu Thế để chia sẻ cuộc khổ nạn và tái sinh trong Thánh Thần những người con của Chúa. Thực tại này đã được lòng đạo đức bình dân diễn tả qua “bảy lưỡi gươm” đâm thâu qua trái tim của Đức Maria {2}: hình thức này muốn nói lên mối liên kết sâu xa giữa bà mẹ, -được đồng hóa với thiếu nữ Sion và với Hội Thánh-, và số phận đau khổ của Ngôi Lời Nhập Thể.
 
Khi trao trả lại người Con mà mình vừa được nhận lãnh bởi Thiên Chúa, để hiến dâng Người cho sứ mạng cứu chuộc, Đức Maria cũng dâng hiến chính mình cho sứ mạng đó nữa. Đây là một thái độ chia sẻ nội tâm chứ không nguyên chỉ là hoa quả của tình mẹ; nhất là nó biểu lộ sự thỏa thuận của người đàn bà “mới” vào công trình cứu chuộc của Đức Kitô.
 
2.- Trong lời phát biểu của mình, ông Simêon đã bày tỏ mục tiêu của hy lễ của Đức Giêsu và của Mẹ Maria: những điều này sẽ xảy đến “ngõ hầu những ý nghĩ từ thâm tâm của nhiều người phải lộ ra” (Lc 2,35).
 
Đức Giêsu “dấu hiệu bị chống báng” (Lc 2,34), Đấng lôi cuốn bà mẹ mình vào vòng đau khổ, sẽ là kẻ bắt buộc con người phải bày tỏ thái độ đối với Người, mời gọi họ hãy dứt khoát lập trường. Thực vậy, Người là “duyên cớ cho nhiều người phải vấp ngã hay được chỗi dậy ở Israel” (Lc 2,34).
 
Do đó, đối với công trình cứu chuộc, Đức Maria kết hiệp với Con của mình “trong sự chống báng”. Đành rằng sẽ có nguy cơ bị hủy diệt dành cho những ai khước từ Đức Kitô; tuy nhiên, công hiệu tuyệt diệu của cuộc cứu chuộc là sự chỗi dậy của nhiều người. Nguyên chỉ lời loan báo này đã đủ gợi lên một niềm hy vọng lớn lao trong con tim của những người được chứng kiến hoa quả của hy lễ.
 
Khi đặt trước mắt Đức Trinh Nữ Maria viễn ảnh của ơn cứu rỗi trước khi tiến dâng hy lễ theo luật truyền, ông Simêon xem ra gợi ý cho Người hãy thực hiện cử chỉ này để đóng góp vào việc cứu chuộc nhân loại. Thực vậy ông không ngỏ lời với ông Giuse hay là về ông Giuse; những câu nói của ông chỉ hướng về Đức Maria, mà ông đã liên kết với số phận của Con mình.
 
 3.- Xét theo thời gian, việc dâng hiến của Đức Maria đi trước việc dâng hiến của Đức Kitô, tuy nhiên nó không làm mờ ám hy lễ của Đức Kitô. Công Đồng Vaticanô II khi định nghĩa vai trò của Đức Maria trong chương trình cứu chuộc, đã nhắc nhở rằng Đức Maria “đã hiến dâng mình… cho bản thân và sự nghiệp của Con mình, phục vụ chương trình cứu chuộc ở dưới Đức Kitô và cùng với Đức Kitô” (HT 56).
 
Khi tiến dâng Đức Giêsu vào Đền Thờ, Đức Maria đã phục vụ mầu nhiệm cứu chuộc ở dưới Đức Kitô và cùng với Đức Kitô: chính Đức Kitô là nhân vật chính của cuộc cứu rỗi, và Người cần được chuộc lại bằng một cuộc dâng hiến theo luật truyền. Đức Maria kết hiệp với hy lễ của Con mình bằng lưỡi gươm đâm thâu qua tâm hồn.
 
Địa vị tối thượng của Đức Kitô không những không gạt bỏ nhưng còn nâng đỡ và đòi hỏi người phụ nữ một vai trò riêng biệt không thể thay thế được. Khi lôi cuốn bà mẹ vào hy lễ của mình, Đức Kitô đã muốn tỏ lộ cho thấy hy lễ mang bộ mặt nhân đạo và tiên báo hy lễ tư tế trên thập giá. Việc Thiên Chúa mong mỏi người phụ nữ đóng góp vào công tác cứu chuộc được bày tỏ qua sự kiện là lời tiên báo của ông Simêon chỉ hướng tới Đức Maria, cho dù lúc ấy ông Giuse cũng có mặt vào nghi thức tiến dâng.

4.- Kết luận của câu chuyện tiến dâng Đức Giêsu trong Đền Thờ xem ra xác nhận ý nghĩa và vai trò của sự hiện diện của người phụ nữ trong chương trình cứu chuộc.
 
Sự gặp gỡ một người phụ nữ tên là Anna đã kết thúc những hồi quan trọng của việc chuyển tiếp từ Cựu Ước sang Tân Ước.
 
Cũng như ông Simêon, bà Anna không phải là một nhân vật nổi nang trong xã hội, nhưng cuộc đời của bà đã có một giá trị lớn lao trước mặt Chúa. Ông Luca gọi bà là “nữ ngôn sứ”, có lẽ bởi vì bà đã được nhiều người đến tham vấn khi thấy bà được đặc sủng phân định và bởi vì cuộc sống thánh thiện của bà dưới sự hướng dẫn của Thần Khí Chúa.
 
Bà Anna là người cao niên, lúc ấy bà đã 84 tuổi và đã góa chồng từ lâu năm. Bà đã tận hiến cuộc đời cho Thiên Chúa, “bà không rời bỏ Đền Thờ, những ăn chay cầu nguyện, sớm hôm phụng thờ Thiên Chúa” (Lc 2,37). Bà tượng trưng cho biết bao nhiêu người sống trong niềm hy vọng mãnh liệt chờ đợi Đấng Mêsia, và đã được diễm phúc đón nhận sự hoàn tất của lời hứa trong niềm hân hoan vô tận. Thánh sử kể lại rằng “lúc ấy bà đã tới nơi, và bà đã cảm tạ Thiên Chúa” (2,38).
 
Vì sống thường ngày trong Đền Thờ, bà đã có cơ hội, có lẽ còn dễ dàng hơn ông Simêon, để mà gặp gỡ Chúa Giêsu vào lúc cuộc đời tận hiến cho Thiên Chúa sắp chấm dứt, cuộc đời đã được tô điểm bằng việc lắng nghe Lời Chúa và bằng sự cầu nguyện.
 
Vào lúc bình minh của thời cứu chuộc, chúng ta có thể nhận thấy nơi bà ngôn sứ Anna tất cả những phụ nữ, bằng cuộc sống thánh thiện và lời cầu nguyện tha thiết, họ đã mau mắn đón tiếp sự hiện diện của Đức Kitô và hằng ngày ngợi khen Thiên Chúa vì những kỳ công và lòng lân tuất của Ngài đã thực hiện.
 
5.- Được Thiên Chúa chọn lựa để gặp gỡ Hài Nhi Giêsu, ông Simêon và bà Anna đã sống xứng đáng với hồng ân đó, họ đã chia sẻ với Đức Maria và ông Giuse niềm vui của sự hiện diện của Chúa Giêsu và đã chiếu tỏa niềm vui đó ra chung quanh. Cách riêng bà Anna đã bày tỏ lòng hăng say khi nói về Đức Giêsu, chứng tỏ cho lòng tin đơn sơ và quảng đại. Niềm tin của bà chuẩn bị cho những người khác đón nhận Đấng Mêsia vào cuộc đời của mình.
 
Kiểu nói của ông Luca, “bà ta nói về Hài Nhi cho những người đang mong chờ ngày Thiên Chúa cứu chuộc dân Israel” (2,38), xem ra giới thiệu bà như là biểu tượng của những phụ nữ đã dấn thân loan truyền Phúc Âm, khơi dậy và nuôi dưỡng niềm hy vọng vào ơn cứu độ.
 
Chú thích:
{1} Xem lại bài 17-18.
{2} Chủ đề này cũng gắn liền với việc tôn kính “bảy sự đau đớn” của Đức Mẹ.
 
Đức thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II
(Bản dịch tiếng Việt của Linh mục Giuse Phan Tấn Thành, OP.)