29/05/2018
323
Những Huấn Giáo Của Đức Gioan Phaolô II Về Đức Maria

Lời người chuyển ngữ: Đức thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II đã dành 70 bài huấn giáo để nói về Đức Maria, kéo dài từ ngày 07.09.1995 đến ngày 13.11.1997.

Tại Cana, do lòng trắc ẩn Đức Maria đã xin Chúa Giêsu làm phép lạ đầu tiên. Đối lại, Đức Maria được Chúa mời gọi hãy cộng tác như “người nữ” vào công trình cứu độ. Các giáo phụ còn giải thích trình thuật về tiệc cưới Cana theo nhiều nghĩa biểu tượng khác nữa: sự chuyển tiếp từ nước thanh tẩy của Cựu Ước sang rượu của Tân Ước; tiệc cưới của Giao Ước vĩnh viễn; rượu của Bí Tích Thánh Thể.
****


 
BÀI 45: TẠI CANA ĐỨC MARIA GIỤC CHÚA GIÊSU THỰC HIỆN PHÉP LẠ ĐẦU TIÊN
 
1.- Khi kể lại sự hiện diện của Đức Maria trong cuộc đời công khai của Đức Giêsu, Công Đồng Vaticanô II đã nhắc tới sự tham gia của Người tại Cana nhân dịp phép lạ đầu tiên: “Tại tiệc cưới ở Cana Galilêa, Đức Maria động lòng trắc ẩn, đã van nài xin Đức Giêsu Đấng Mêsia, bắt đầu các phép lạ (xc. Ga 2,1-11)” (HT 58).
 
Theo gót thánh sử Gioan, Công Đồng ghi nhận vai trò kín đáo nhưng lại hữu hiệu của Đức Mẹ, Đấng đã thúc giục Đức Kitô thực hiện “phép lạ đầu tiên” do lời khẩn nài của mình.
 
Mặc dù chỉ gây được ảnh hưởng kín đáo của bà mẹ, nhưng cuối cùng, sự hiện diện của bà đã đưa tới hiệu quả quyết định. Sáng kiến của Đức Trinh Nữ Maria lại còn đáng kinh ngạc hơn nữa nếu chúng ta nhớ tới điều kiện thấp bé của người phụ nữ trong xã hội Do Thái.
 
Thực vây, tại Cana, Đức Giêsu không những nhìn nhận phẩm giá và vai trò của tài năng người phụ nữ, nhưng khi đón nhận sự can thiêp của người Mẹ, Đức Giêsu đã mở ra cho bà một cơ hội tham dự vào công trình của Đấng Mêsia. Việc gọi Đức Maria là “người nữ ơi” không đi ngược lại ý tưởng vừa nói. Thực vậy lời “người (phụ) nữ” không bao hàm một ý nghĩa tiêu cực nào, và sẽ còn được Đức Giêsu sử dụng khi ngỏ lời với Đức Maria dưới chân Thập Giá (xc. Ga 19,26) {1}. Theo một vài nhà chú giải, danh hiệu “Người Nữ” {2} trình bày Đức Maria như là bà Evà mới, mẹ của tất cả những người tin.
 
Trong đoạn văn trích dẫn trên đây, Công Đồng Vaticanô II đã nói rằng “Đức Maria động lòng trắc ẩn”, muốn cho thấy rằng Người đã được thúc đẩy bởi con tim nhân từ của mình. Khi nhìn thấy cảnh bối rối của đôi tân hôn và của khách vì thiếu rượu, Đức Maria động lòng xót thương đã gợi cho Đức Giêsu can thiệp bằng quyền năng Mêsia của mình.
 
Đối với một vài người, lời xin của Đức Maria xem ra quá đáng, bởi vì nó đặt việc khai mào các phép lạ phải lệ thuộc vào một hành vi trắc ẩn. Đức Giêsu đã trả lời cho vấn nạn đó khi Người đã thỏa thuận làm theo lời yêu cầu của Đức Mẹ; Người chứng tỏ cho thấy Chúa đã đáp lại những ước mong của nhân loại một cách dồi dào, và đồng thời cũng cho thấy tình yêu của một người mẹ có thể có hiệu lực đến đâu.
 
2.- Sự sử dụng từ ngữ “khởi đầu cho các phép lạ” trong bản văn của Công Đồng, dựa trên thánh sử Gioan, đáng cho chúng ta lưu ý. Hạn từ trong tiếng Hy Lạp Arkhe, được dịch là “bắt đầu” hay là “khởi nguyên”, đã được thánh Gioan dùng ở trong Lời tựa của Phúc Âm: “Lúc khởi nguyên đã có Ngôi Lời” (1,1). Sự trùng hợp đầy ý nghĩa này cho phép chúng ta thiết lập một sự song song giữa khởi nguyên của việc tỏ bày vinh quang của Đức Kitô vào hồi nguyên thủy và của việc bày tỏ vinh quang của Người trong sứ vụ trần thế.
 
Khi làm nêu bật sáng kiến của Đức Maria trong phép lạ đầu tiên và khi nói tới sự hiện diện của Người trên núi Calvariô dưới chân Thập Giá, thánh sử giúp chúng ta thấy rằng sự hợp tác của Đức Maria kéo dài ra suốt sự nghiệp của Đức Kitô. Lời yêu cầu của Đức Maria nằm trong chương trình cứu rỗi của Thiên Chúa.
 
Trong phép lạ đầu tiên của Đức Giêsu, các Giáo phụ đã nhìn thấy một chiều kích biểu tượng, khi nhận ra trong việc biến nước thành rượu, sự loan báo việc chuyển tiếp từ Cựu Ước sang Tân Ước. Tại Cana, nước ở các chum dùng vào việc thanh tẩy của người Do Thái và việc chu toàn những lề luật Môisen (xc. Mc 7,15), trở thành rượu mới của một tiệc cưới, biểu tượng của sự kết hợp vĩnh viễn giữa Thiên Chúa và con người.
 
3.- Khung cảnh của tiệc cưới, được Đức Giêsu chọn lựa để thực hành phép lạ đầu tiên, quy hướng tới biểu tượng hôn nhân, thường được Cựu Ước sử dụng để ám chỉ giao ước giữa Thiên Chúa với Dân Người (xc. Hs 2,21; Gr 2,1-8; Tv 44; vv) và trong Tân Ước để ám chỉ sự kết hợp của Đức Kitô với Hội Thánh (xc. Ga 3,28-30; Ep 5,25-32; Kh 21,1-2; vv).
 
Sự hiện diện của Đức Giêsu tại Cana còn bày tỏ ý định cứu chuộc của Thiên Chúa đối với hôn nhân. Trong khung cảnh này, sự thiếu rượu có thể được giải thích theo nghĩa là gợi lên việc thiếu tình yêu, thường đe dọa sự hòa thuận vợ chồng. Đức Maria xin Chúa Giêsu can thiệp nhằm giúp đỡ cho tất cả mọi đôi hôn nhân, mà chỉ duy một tình yêu đặt nơi Thiên Chúa mới có thể giải quyết được những mối nguy của sự bất trung, hiểu lầm, chia rẽ. Ân sủng của bí tích mang lại cho các đôi hôn nhân một sức mạnh của tình yêu, để có thể củng cố lòng quyết tâm chung thủy kể cả trong những hoàn cảnh khó khăn.
 
Ngoài ra theo sự giải thích của một số tác giả khác, phép lạ Cana cũng hàm chứa ý nghĩa về bí tích Thánh Thể. Khi làm phép lạ này -cũng như phép lạ hoá bánh ra nhiều (xc. Ga 6,4)- vào lúc gần đại lễ Vượt Qua của người Do Thái (xc. Ga 2,13), Đức Giêsu bày tỏ ý định chuẩn bị cho một bữa tiệc Vượt Qua, đó là bí tích Thánh Thể.
 
Sự móc nối bữa tiệc Cana với ý nghĩa Thánh Thể còn có thể được giải thích qua sự hiện diện của rượu, hình bóng của máu Giao Ước Mới và trong khung cảnh của một bữa tiệc.
 
Do đó, Đức Maria, sau khi là nguồn gốc của sự hiện diện của Đức Giêsu tại tiệc cưới, đã xin được phép lạ của rượu mới, tượng trưng cho bí tích Thánh Thể, dấu hiệu cao cả của sự hiện diện của Con mình ở giữa các môn đệ sau khi sống lại.
 
4.- Kết thúc trình thuật về phép lạ đầu tiên của Đức Giêsu, được thực hiện do lòng tin sắt đá của Thân Mẫu của Chúa, thánh sử Gioan kết luận rằng: “các môn đệ đã tin vào Người” (2,11). Tại Cana Đức Maria đã khởi đầu con đường đức tin của Hội Thánh, đi trước các môn đệ và lôi kéo sự chú ý của các môn đệ về với Đức Kitô.
 
Lời chuyển cầu không ngừng của Đức Maria khuyến khích tất cả những ai phải gặp cảm nghiệm của sự “thiếu vắng Thiên Chúa”. Họ được mời gọi hãy trông cậy dù không còn gì để trông cậy {3}, luôn luôn đặt tin tưởng vào lòng lân tuất của Chúa.
 
Chú thích:
{1} Xc. bài 49 dưới đây.
{2} “Người Nữ” hay “Người Phụ Nữ”, “Người Đàn Bà”.
{3} Xc. Rm 4,18.
 
Đức thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II
(Bản dịch tiếng Việt của Linh mục Giuse Phan Tấn Thành, OP.)