04/07/2018
364
Những Huấn Giáo Của Đức Gioan Phaolô II Về Đức Maria

Lời người chuyển ngữ: Đức thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II đã dành 70 bài huấn giáo để nói về Đức Maria, kéo dài từ ngày 07.09.1995 đến ngày 13.11.1997.

Mối tương quan giữa Đức Maria với Hội Thánh được Công Đồng Vaticanô II diễn tả bằng những quan niệm khác nhau: “phần tử ưu việt” (xc. bài 57), “Mẹ” (xc. bài 63), “hình ảnh và mẫu gương”. Bài hôm nay giải thích ý nghĩa của từ “điển hình” (hay “hình ảnh”) và mẫu gương. Những bài kế tiếp sẽ khai triển bốn khía cạnh khác nhau của “mẫu gương”.
****
BÀI 58: ĐỨC MARIA, ĐIỂN HÌNH VÀ MẪU GƯƠNG CỦA HỘI THÁNH
 
1.- Hiến chế Tín lý về Hội Thánh của Công Đồng Vaticanô II, sau khi đã trình bày Đức Maria như là phần tử “ưu việt và độc nhất vô nhị của Hội Thánh” đã tuyên dương Người là “hình ảnh và khuôn mẫu tuyệt vời của đức tin và đức ái” {1} (HT 53).
 
Các Nghị phụ đã gán cho Đức Maria chức năng “điển hình”, nghĩa là hình ảnh của Hội Thánh, lấy từ một từ ngữ của thánh Ambrôsiô. Khi chú giải cảnh Truyền Tin, thánh Ambrôsiô đã nói như sau: “Quả vậy, Đức Maria đã đính hôn mà còn trinh khiết, bởi vì Người là điển hình của Hội Thánh không tì ố nhưng đã đính hôn: Hội Thánh trinh khiết đã thụ thai chúng ta bởi Chúa Thánh Thần, Hội Thánh trinh khiết đã sinh chúng ta không đau đớn” (In Evàngelium secundum Lucam, II,7). Vì thế Đức Maria là hình ảnh của Hội Thánh nhờ sự thánh thiện không tì ố, nhờ sự trinh khiết, nhờ đặc tính hôn thê và Mẹ.
 
Thánh Phaolô đã dùng từ ngữ “điển hình” {2} để ám chỉ một hình ảnh hữu hình của một thực tại thiêng liêng. Thực vậy, thánh Phaolô đã nhìn thấy trong việc dân Israel đi qua Biển Đỏ “điển hình” hay là hình ảnh của phép rửa Kitô giáo; trong bánh manna và nước vọt ra từ tảng đá, một “điển hình” hay là hình ảnh của lương thực và của uống của bí tích Thánh Thể (xc. 1 Cr 10,1-11).
 
Khi định nghĩa Đức Maria là điển hình của Hội Thánh, Công Đồng mời gọi chúng ta hãy nhìn nhận ở nơi Người hình ảnh hữu hình của một thực tại thiêng liêng là Hội Thánh và nhận ra nơi tình mẹ vô nhiễm, sự loan báo tình mẹ trinh khiết của Hội Thánh.
 
2.- Tuy nhiên cần phải xác định rằng, khác với những hình ảnh hay điển hình trong Cựu Ước chỉ mới tiên báo những thực tại của tương lai, còn nơi Đức Maria thì thực tại thiêng liêng đã hiện diện rồi và hiện diện một cách siêu việt.
 
Việc vượt qua Biển Đỏ, được thuật lại trong sách Xuất Hành, là một biến cố giải thoát, chứ chưa phải là phép rửa có khả năng tha tội và ban sức sống mới. Một cách tương tự như vậy, bánh manna, một hồng ân của Thiên Chúa cho dân lữ hành trên sa mạc, chưa có chứa đựng thực tại của bí tích Thánh Thể, cũng như nước vọt ra từ tảng đá chưa chứa đựng bửu huyết của Chúa Kitô đổ ra cho muôn người.
 
Cuộc xuất hành là một kỳ công mà Thiên Chúa đã thực hiện cho dân Người, nhưng chưa phải là cuộc cứu chuộc chung cục, một điều chỉ xảy ra qua mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô. Ngoài ra, khi nói tới phụng tự của đạo Do Thái, thánh Phaolô nhắc nhở rằng: “tất cả những điều này chỉ là hình bóng của tương lai; nhưng thực tại là chính Đức Kitô” (Cl 2,17). Lá thư gởi dân Do Thái cũng giải thích điều này một cách có hệ thống hơn, khi trình bày phụng tự của Cựu Ước như là hình bóng của những thực tại trên trời” (Dt 8,5).
 
3.- Khi khẳng định rằng Đức Maria là hình ảnh của Hội Thánh, Công Đồng không nhằm đồng hóa Người với những hình ảnh hay điển hình thuộc về Cựu Ước, nhưng là muốn khẳng định rằng nơi Đức Maria thực tại thiêng liêng được loan báo và được tượng trưng thì nay đã thực hiện một cách hoàn toàn.
 
Thực vậy, Đức Maria là hình ảnh của Hội Thánh, không phải xét như là một sự tiên báo bất toàn, nhưng là một sự viên mãn cần phải được diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau trong đời sống của Hội Thánh. Mối liên hệ đặc biệt giữa hình ảnh và thực tại đặt nền tảng trên chương trình của Thiên Chúa, Đấng đã thiết lập một sự liên kết chặt chẽ giữa Đức Maria với Hội Thánh. Chương trình cứu rỗi đã ấn định rằng những sự tiên báo của Cựu Ước sẽ được hoàn tất trong Tân Ước; chương trình ấy cũng ấn định rằng Đức Maria sống một cách hoàn hảo những gì sẽ được dần dần thực hiện ở trong Hội Thánh.
 
Do đó, sự hoàn thiện mà Thiên Chúa đã ban cho Đức Maria đạt được một ý nghĩa chân chính nếu được đọc như là tiên báo cho cuộc sống thần linh ơ trong Hội Thánh.
 
4.- Sau khi đã khẳng định rằng Đức Maria là “điển hình của Hội Thánh”, Công Đồng thêm rằng Đức Maria là “khuôn mẫu tuyệt vời” của Hội Thánh, mẫu gương hoàn thiện cho Giáo Hội đi theo và bắt chước.
 
Thực vậy, Đức Maria là một “khuôn mẫu tuyệt vời” bởi vì sự hoàn thiện của Người vượt lên trên tất cả các phần tử khác của Hội Thánh. Công Đồng cũng thêm rằng Đức Maria thực hiện chức năng làm khuôn mẫu “về đức tin và đức ái”. Tuy không quên rằng Đức Kitô mới là mẫu gương đệ nhất, Công Đồng muốn gợi ý rằng có những tâm tình nội tại khác, họa theo khuôn mẫu của Đức Maria, có thể giúp cho người Kitô hữu thiết lập một mối tương quan chân chính với Chúa Kitô. Thực vậy, khi nhìn lên Đức Maria, người tín hữu học biết cách thông hiệp sâu xa hơn với Chúa Kitô, gắn bó với Người bằng đức tin sống động, đặt hết niềm tin tưởng nơi Người, và yêu mến Người với trót cuộc sống của mình.
 
Chức năng “điển hình và khuôn mẫu của Hội Thánh” được nhắm tới đặc biệt vào chức làm Mẹ Trinh Khiết của Đức Maria, và làm sáng tỏ vị trí đặc biệt của Người trong công trình Cứu Chuộc. Cơ cấu căn bản này của bản thân Đức Maria được phản ánh ra chức vụ làm mẹ và là đức trinh khiết của Hội Thánh {3}.
 
Chú thích:
{1} “Eius in fide et caritate typus et exemplar spectissimum”
{2} Typus: “điển hình”, cũng được dịch là “tiên trưng”.
{3} Hai đề tài này sẽ được khai triển trong hai bài 59 và 60.
 
Đức thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II
(Bản dịch tiếng Việt của Linh mục Giuse Phan Tấn Thành, OP.)