21/07/2018
210
Những Huấn Giáo Của Đức Gioan Phaolô II Về Đức Maria

Lời người chuyển ngữ: Đức thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II đã dành 70 bài huấn giáo để nói về Đức Maria, kéo dài từ ngày 07.09.1995 đến ngày 13.11.1997.

Cho đến nay, các bài huấn giáo trình bày vai trò của Đức Maria đối với chúng ta nhìn dưới ánh sáng của chương trình cứu độ. Những bài huấn giáo cuối cùng bàn đến nghĩa vụ của chúng ta đối với Mẹ, tóm lại trong từ ngữ “tôn kính”. Bài hôm nay điểm qua sự tiến triển của lòng tôn kính này trải qua lịch sử Hội Thánh: từ những mầm mống gặp thấy nơi Hội Thánh tiên khởi cho đến sự phát triển sau Công Đồng Ephêsô. Việc tôn kính Đức Maria được diễn tả cách riêng qua các kinh nguyện và lễ Phụng Vụ.
****
BÀI 66: VIỆC TÔN KÍNH ĐỨC TRINH NỮ MARIA
 
1.- “Khi thời gian đến thời viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con của mình, sinh bởi người nữ…” (Gl 4,4). Việc tôn kính Đức Maria đặt nền tảng trên ý định nhiệm mầu của Thiên Chúa, như thánh Phaolô đã nhắc tới, muốn liên kết bản chất con người của Con Thiên Chúa với một người nữ, Đức Maria Nadarét.
 
Mầu nhiệm về chức Thân Mẫu Thiên Chúa và về sự cộng tác của Đức Maria vào công trình cứu chuộc đã gợi lên trong lòng các tín hữu thuộc mọi thời đại một thái độ ngợi khen vừa hướng về Chúa Cứu Thế vừa hướng về Đấng đã sinh hạ Chúa Cứu Chuộc trong thời gian, đã cộng tác vào ơn cứu chuộc.
 
Một động lực khác của lòng yêu mến biết ơn đối với Đức Trinh Nữ Maria dựa trên chức vụ làm mẹ tất cả mọi người. Khi chọn Người làm Mẹ của toàn thể nhân loại, Chúa Cha trên trời đã muốn bày tỏ chiều kích nói được là từ mẫu của lòng Chúa ưu ái, lưu tâm săn sóc hết mọi người thuộc hết mọi thời đại.
 
Trên núi Calvariô, với những lời: “Đây là con của Bà”, “Đây là mẹ của con” (Ga 19,26-27), Chúa Giêsu đã trao ban Đức Maria cho tất cả những người sẽ lãnh nhận Tin Mừng cứu độ, và như vậy Chúa đã đặt tiền đề cho lòng con thảo của họ đối với Người. Theo gương ông Gioan, các Kitô hữu muốn kéo dài tình yêu của Chúa Kitô đối với Thân Mẫu của mình qua việc tôn kính, đón nhận Người vào đời sống của mình.
 
2.- Các bản văn Phúc Âm đã làm chứng sự hiện diện của việc tôn kính Đức Maria ngay từ buổi sơ khai của Hội Thánh.
 
Hai chương đầu tiên của Tin Mừng thánh Luca xem ra đã thu nhặt sự chú ý đặc biệt của các người Kitô hữu gốc Do Thái đối với Thân Mẫu Đức Giêsu; họ đã bày tỏ lòng quý trọng đối với Người và cẩn thủ những kỷ niệm của Người.
 
Hơn nữa, trong những trình thuật về thời niên thiếu của Chúa, chúng ta có thể nắm bắt được những lối diễn tả đầu tiên của lòng tôn kính Đức Maria, tóm tắt lại trong những lời thốt lên của bà Isave: “Bà được chúc tụng hơn mọi phụ nữ… Phúc cho bà, vì đã tin rằng Lời Chúa sẽ thực hiện!” (Lc 1,42-45).
 
Dấu tích của một lòng tôn kính phổ biến trong cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi cũng được hiện diện trong bài ca Magnificat: “Hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc” (Lc 1,48).
 
Khi đặt trên môi của Đức Maria những lời đó, các Kitô hữu đã nhìn nhận nơi Người một vẻ cao trọng vô tiền khoáng hậu sẽ được tuyên dương cho đến ngày tận thế.
 
Ngoài ra, những chứng tá của Tin Mừng (xc. Lc 1,34.35; Mt 1,23 và Ga 1,13), những biểu thức đức tin đầu tiên và một đoạn văn của thánh Ignaxiô Antiôkia đã chứng nhận lòng thán phục đặc biệt của các cộng đoàn tiên khởi đối với đức trinh khiết của Đức Maria, được liên kết chặt chẽ với mầu nhiệm Nhập Thể.
 
Phúc Âm thánh Gioan, khi ghi nhận sự hiện diện của Đức Maria vào lúc khởi đầu và kết thúc cuộc đời công khai của Chúa Giêsu, giả thiết rằng giữa các Kitô hữu đầu tiên đã có một sự ý thức sống động về vai trò của Đức Maria trong công trình cứu chuộc, hoàn toàn tùy thuộc âu yếm vào Đức Kitô.
 
3.- Khi nêu bật tính cách độc đáo của lòng tôn kính {1} Đức Maria, Công Đồng Vaticanô II khẳng định: “Nhờ hồng ân Thiên Chúa, Đức Maria được tôn vinh sau Chúa Con, lên trên hết các thiên thần và loài người, bởi vì Người là mẹ rất thánh của Chúa và đã tham gia vào các mầu nhiệm của Chúa Kitô; do đó Người xứng đáng được Giáo Hội tôn vinh và đặc biệt sùng kính” (HT 66).
 
Và rồi khi nhắc tới kinh cầu khẩn Đức Maria ở thế kỷ thứ III “Sub tuum praesidium” {2}, Công Đồng thêm rằng tính cách đặc biệt này đã được nổi bật ngay từ đầu: “Thực vậy từ thời xa xưa, Đức Trinh Nữ đã được sùng kính dưới tước hiệu Đức Mẹ Chúa Trời, mà các tín hữu đến ẩn náu trong mọi cơn gian nguy và khốn khó” (cđd).
 
4.- Lời khẳng định ấy được xác nhận bằng những họa phẩm và đạo lý của các Giáo phụ ngay từ thế kỷ thứ II.
 
Tại Roma, trong hang toại đạo Priscilla, chúng ta có thể chiêm ngắm bức họa đầu tiên diễn tả Đức Mẹ cùng với Hài Nhi. Cùng thời ấy thánh Giustinô và thánh Irênêô nói tới Đức Maria như là bà Evà mới, kẻ mà nhờ đức tin và sự tuân phục đã sửa chữa sự bất tín và bất tuân của người phụ nữ đầu tiên. Theo thánh Irênêô, ông Ađam được Đức Kitô cứu chuộc thì chưa đủ, nhưng “điều cần thiết và công bằng là bà Evà được chấn hưng lại trong Đức Maria” (Demonstratio apostolicae praedicationis 33). Như vậy ông đã nêu bật tầm quan trọng của người phụ nữ trong công trình cứu chuộc, và đã đặt một nền tảng cho sự gắn bó giữa lòng tôn kính Đức Maria với việc tôn kính Chúa Giêsu trải qua dòng lịch sử Kitô giáo.
 
5.- Vào lúc đầu, lòng tôn kính Đức Maria được diễn tả qua việc kêu cầu Người dưới tước hiệu “Theotokos” (Đức Mẹ Chúa Trời), tước hiệu được xác định bởi Công Đồng Êphêsô năm 431, sau cuộc khủng hoảng của ông Nestoriô.
 
Sự phản ứng bình dân đối với chủ trương mập mờ của ông Nestoriô, khi ông phủ nhận chức làm Mẹ Thiên Chúa của Đức Maria, và sự đón tiếp hân hoan của các tín hữu đối với quyết nghị của Công Đồng Ephêsô, xác nhận rằng lòng tôn kính Đức Maria đã đâm rễ sâu trong lòng các Kitô hữu. Tuy nhiên “nhất là từ Công Đồng Ephêsô trở về sau lòng tôn kính của Dân Chúa đối với Đức Maria đã gia tăng lạ thường về lòng kính mến, trong việc khẩn cầu cũng như việc bắt chước…” (HT 66).
 
Lòng tôn kính Đức Maria được biểu lộ một cách đặc biệt qua các lễ Phụng Vụ, trong số đó, từ thế kỷ V trở đi, nổi bật “ngày Đức Maria Theotokos” được mừng vào ngày 15 tháng 8 tại Giêrusalem, và sau đó trở thành lễ An Nghỉ hay là Lên Trời của Người.
 
Tiếp đó, dưới ảnh hưởng của sách “Tiền Phúc Âm của ông Giacôbê” một vài lễ khác cũng được thiết lập, như là lễ Sinh Nhật, lễ Thụ Thai và Dâng Mình, những lễ này đã đóng góp vào việc làm nêu bật một vài khía cạnh quan trọng của mầu nhiệm Đức Maria.
 
6.- Chúng ta có thể nói đúng rằng, lòng tôn kính Đức Maria đã được phát triển tới ngày hôm nay một cách liên tục lạ thường, xen lẫn những giai đoạn phồn thịnh với những giai đoạn khủng hoảng. Dù sao những cuộc khủng hoảng thường có ích lợi vì nó thúc đẩy một sự canh tân lòng sùng kính.
 
Sau Công Đồng Vaticanô II, lòng tôn kính Đức Maria đã được phát triển theo chiều hướng hòa hợp với việc đào sâu thêm mầu nhiệm Hội Thánh, và đối thoại với văn hóa đương thời, ngõ hầu đâm rễ sâu hơn trong đức tin và trong đời sống của dân Chúa lữ hành trên mặt đất.
 
Chú thích:
{1} “Cultus”: tôn kính, sùng kính, tôn sùng.
{2} “Chúng con trông cậy…”, xem bài 37.
 
Đức thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II
(Bản dịch tiếng Việt của Linh mục Giuse Phan Tấn Thành, OP.)