23/07/2018
237
Những Huấn Giáo Của Đức Gioan Phaolô II Về Đức Maria

Lời người chuyển ngữ: Đức thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II đã dành 70 bài huấn giáo để nói về Đức Maria, kéo dài từ ngày 07.09.1995 đến ngày 13.11.1997.

Sau khi đã điểm qua lịch sử của việc tôn kính Đức Maria (bài 66), lần này Đức Thánh Cha giải thích bản chất thần học. 1/ Việc tôn kính Đức Maria khác hẳn với việc thờ phượng dành cho Ba Ngôi Thiên Chúa. 2/ Tuy nhiên, việc tôn kính Đức Maria dẫn tới sự tôn thờ Thiên Chúa. 3/ Việc tôn kính dành cho Đức Maria thì cũng khác biệt so với việc tôn kính dành cho các thánh.
****
BÀI 67: BẢN CHẤT CỦA VIỆC TÔN KÍNH ĐỨC MARIA
 
1.- Công Đồng Vaticanô II khẳng định rằng lòng tôn kính Đức Maria “như vốn hiện hành trong Hội Thánh, tuy dù mang tính cách đặc biệt, nhưng nó khác biệt về bản tính với việc tôn kính thờ lạy dâng lên Ngôi Lời Nhập Thể cùng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, và nó đặc biệt cổ võ sự thờ lạy đó” (HT66).
 
Với những lời này, Hiến chế Tín lý về Hội Thánh đã nêu bật một vài đặc trưng của lòng tôn kính Đức Maria. Mặc dù việc tôn kính Đức Maria cao hơn việc tôn kính dành cho các thánh khác, nhưng nó ở dưới việc tôn sùng thờ phượng dành cho Thiên Chúa; sự khác biệt này dựa theo bản tính.
 
Với từ ngữ “thờ phượng” {1}, chúng ta nói tới hình thức tôn thờ mà con người dành cho Thiên Chúa, nhìn nhận Ngài là Đấng Tạo Hóa và là Chủ tể vạn vật. Được mặc khải soi sáng, người tín hữu thờ lạy Chúa Cha “trong Thần Khí và sự thật” (Ga 24,23). Cùng với Chúa Cha, người tín hữu thờ lạy Ngôi Lời Nhập Thể, thốt lên như tông đồ Tôma rằng: “Lạy Chúa tôi, lạy Chúa Trời tôi!” (Ga 20,28). Sau cùng hành vi thờ phượng đó cũng bao gồm Chúa Thánh Thần, Đấng “cùng được phụng thờ và tôn vinh với Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con”, như tín biểu của Công Đồng Nixêa – Constanopolis đã nhắc nhở.
 
Khi kêu cầu Đức Maria “Đức Mẹ Chúa Trời” và chiêm ngưỡng nơi Người phẩm chức cao trọng được ban cho một thụ tạo, các tín hữu không mang lại cho Người một sự tôn kính ngang hàng với Ba Ngôi Thiên Chúa. Có một sự cách biệt vô bờ bến giữa việc tôn kính Đức Maria với sự tôn thờ dành cho Chúa Ba Ngôi và cho Ngôi Lời Nhập Thể.
 
Vì thế, ngôn ngữ mà cộng đoàn Kitô hữu dành cho Đức Maria, dù đôi khi cũng tương tự với việc tôn kính Thiên Chúa {2}, nhưng mang một ý nghĩa và một giá trị hoàn toàn khác biệt. Cũng vậy, lòng yêu mến mà các tín hữu dành cho Đức Maria khác với lòng kính mến mà họ dành cho Thiên Chúa: Thiên Chúa cần phải được yêu mến trên hết mọi sự, hết lòng, hết linh hồn và tâm trí (xc. Mt 2,27); còn tâm tình mà các Kitô hữu dành cho Đức Maria thì diễn tả trên bình diện thiêng liêng lòng thảo hiếu của con cái dành cho mẹ hiền.
 
2.- Tuy vậy, giữa việc tôn kính dành cho Đức Maria và việc tôn kính dành cho Thiên Chúa có một sự liên tục: thực vậy, sự tôn vinh dành cho Đức Maria hướng tới việc thờ lạy Ba Ngôi cực thánh.
 
Công Đồng đã nhắc nhở rằng lòng tôn kính dành cho Đức Maria “cổ võ một cách đặc biệt” việc thờ phượng dành cho Ngôi Lời Nhập Thể, dành cho Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Công Đồng thêm rằng, theo viễn ảnh Kitô học “những hình thức tôn kính Đức Mẹ Chúa Trời mà Hội Thánh đã chấp nhận trong giới hạn của một đạo lý lành mạnh và chính thống, tùy theo hoàn cảnh, thời gian và không gian, tùy theo bản sắc và tâm trạng của các tín hữu, những hình thức này đưa tới việc tôn vinh Đức Mẹ, và đồng thời cũng đưa tới việc hiểu biết, yêu mến, tôn vinh và tuân hành giới răn của Chúa Con, Đấng mà trong đó mọi vật được hiện hữu (xc. Cl 1,15-16) và Đấng mà Chúa Cha đã vui lòng muốn đặt tất cả sự sung mãn nơi Người (Cl 1,19)” (HT 66).
 
Ngay từ lúc khởi thủy của Hội Thánh, lòng tôn kính Đức Maria hướng tới việc cổ võ sự gắn bó trung thành với Chúa Kitô.
 
Tôn kính Đức Mẹ Chúa Trời có nghĩa là nhìn nhận thiên tính của Đức Kitô. Thật vậy, các nghị phụ tại Công Đồng Êphêsô, khi tuyên dương Đức Maria là “Đức Mẹ Chúa Trời”, đã chủ ý khẳng định niềm tin vào Đức Kitô là Thiên Chúa thật.
 
Kết luận này cũng có thể rút ra từ trình thuật về phép lạ mà Chúa Giêsu đã thực hiện tại Cana do lời chuyển cầu của Đức Maria, cho thấy là hành động của Đức Maria nhằm tới việc tôn vinh Chúa Con. Thực vậy thánh sử viết như sau: “Như thế Đức Giêsu đã khai mạc các phép lạ của mình tại Cana Galilêa, Người đã bộc lộ vinh quang của mình và các môn đệ tin vào Người” (Ga 2,11).
 
3.- Đồng thời, lòng tôn kính Đức Maria, đối với người nào biết thi hành theo tinh thần của Hội Thánh, hỗ trợ sự thờ lạy Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Thực vậy, khi nhìn nhận giá trị của chức làm mẹ của Đức Maria, các tín hữu nhìn nhận nơi Người sự tỏ lộ đặc biệt một khuôn mặt dịu hiền của Chúa Cha.
 
Mầu nhiệm của Mẹ đồng trinh cũng nêu bật tác động của Chúa Thánh Thần, Đấng đã thực hiện trong cung lòng của Người việc thụ thai một Hài Nhi, và Đấng đã luôn luôn dìu dắt Người suốt cả cuộc đời. Những tước hiệu Đấng an ủi, Trạng sư, Phù giúp, mà lòng đạo đức của dân Thiên Chúa đã gán cho Đức Maria, đã không làm lu mờ nhưng còn làm nổi bật tác động của Chúa Thánh Thần Đấng An Ủi {3}, và chuẩn bị tâm hồn người tín hữu đón nhận những hồng ân Chúa Thánh Thần.
 
4.- Sau cùng, Công Đồng nhắc lại rằng lòng tôn kính Đức Maria “có tính cách độc đáo”, và vạch ra sự khác biệt so với việc thờ lạy Thiên Chúa và việc tôn kính dành cho các thánh.
 
Lòng tôn kính Đức Maria mang một sắc thái độc nhất vô nhị bởi vì hướng tới một nhân vật độc nhất vô nhị xét về sự hoàn thiện cá nhân và về sứ mạng. Thực vậy, những hồng ân mà tình thương Chúa ban cho Đức Maria thì hoàn toàn siêu việt, tựa như là sự thánh thiện vô nhiễm, chức làm Mẹ Thiên Chúa, sự liên kết vào công trình cứu chuộc, nhất là thông hiệp vào hy lễ Thập Giá.
 
Lòng tôn kính Đức Maria diễn tả sự ca ngợi và biết ơn của Giáo Hội vì những hồng ân phi thường đó. Dân Kitô giáo chạy đến với Người, - Đấng đã trở thành Mẹ của Hội Thánh và Mẹ của nhân loại -, với lòng tín thác con cái để khẩn xin sự chuyển cầu hiền mẫu và những ơn ích cần thiết cho cuộc đời dưới thế nhắm tới hạnh phúc vĩnh cửu.
 
Chú thích:
{1} “Adoratio”: thờ phượng, thờ lạy, tôn thờ. Xc. Sách GLCG số 2096-2097; 2628.
{2} Ngôn ngữ nhiều khi trùng nhau, chẳng hạn: phụng tự, thờ phượng, tôn kính, sùng kính, tôn sùng,…
{3} Chúa Thánh Thần Đấng An Ủi: Parakletos (Ga 14,16), được dịch ra tiếng Latinh là Consolator (xc. Sách GLCG số 692).
 
Đức thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II
(Bản dịch tiếng Việt của Linh mục Giuse Phan Tấn Thành, OP.)