27/07/2018
230
Những Huấn Giáo Của Đức Gioan Phaolô II Về Đức Maria

Lời người chuyển ngữ: Đức thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II đã dành 70 bài huấn giáo để nói về Đức Maria, kéo dài từ ngày 07.09.1995 đến ngày 13.11.1997.

Một hình thức biểu lộ lòng tôn kính Đức Maria là các kinh nguyện hướng về Người. Sau khi điểm qua vài kinh nguyện phổ thông (Kinh Mừng, Truyền Tin, Mân Côi, Kinh cầu Đức Bà), Đức Thánh Cha trình bày ý nghĩa của các kinh nguyện kính Đức Mẹ: nó diễn tả lòng tin tưởng của các tín hữu nơi Thân Mẫu Chúa Giêsu và cũng là mẹ của chúng ta. Lòng tín thác nơi Đức Mẹ cũng dẫn đến lòng tin tưởng nơi Thiên Chúa Cha quan phòng săn sóc các con cái.
****
BÀI 69: NGUYỆN CẦU MẸ MARIA
 
1.- Trải qua giòng lịch sử, lòng tôn kính Đức Maria đã phát triển không ngừng {1}. Do lòng tôn kính này đã nảy sinh, bên cạnh những lễ Phụng Vụ dâng kính Đức Mẹ Chúa Trời, rất nhiều hình thức của lòng đạo đức, thường đã được Huấn Quyền Giáo Hội chuẩn y và khích lệ.
 
Nhiều việc đạo đức và lời cầu xin hướng lên Đức Maria đã kéo dài chính Phụng Vụ và đôi khi còn làm giàu thêm cho Phụng Vụ, tựa như trường hợp Bài nguyện kính Đức Mẹ (Officium B.M.V.) và nhiều bài thánh thi và ca nguyện khác đã được du nhập vào sách Giờ Kinh Phụng Vụ.
 
Lời khẩn cầu Đức Maria đầu tiên được biết tới đã bắt nguồn từ thế kỷ III và khởi đầu với những lời: “Sub tuum praesidium” (Lạy Đức Mẹ Chúa Trời này chúng con chạy đến tìm nương ẩn nơi Ngài…). Tuy nhiên từ thế kỷ XIV, kinh “Kính mừng Maria” là kinh nguyện phổ thông nhất giữa các tín hữu dành cho Đức Maria {2}.
 
Kinh Kính Mừng lấy lại những lời đầu tiên của thiên sứ chào Đức Maria, dẫn đưa các tín hữu vào việc chiêm niệm mầu nhiệm Nhập Thể. Lời chào “kính mừng” (Ave) dịch tiếng Hy Lạp “Khairê” tạo nên một lời mời gọi vui mừng, và cũng có thể dịch là “Hãy vui lên”. Bài thánh thi bên các Giáo Hội Đông Phương “Akathistos” lặp đi lặp lại nhiều lần tiếng “Hãy vui lên”. Trong Kinh Kính Mừng Đức Trinh Nữ được gọi là “đầy ơn phước” và như thế Người được nhìn nhận là Đấng hoàn thiện và tuyệt mỹ trong linh hồn.
 
Câu nói “Chúa ở cùng bà” bày tỏ mối tương quan đặc biệt giữa Thiên Chúa với Đức Maria, nằm trong chương trình rộng lớn của mối giao ước giữa Thiên Chúa với toàn thể nhân loại. Và rồi những lời “Bà có phúc lạ hơn mọi phụ nữ và Giêsu con lòng bà gồm phúc lạ” khẳng định việc thực hiện chương trình của Thiên Chúa trong thân thể trinh khiết của Thiếu nữ Sion.
 
Khi kêu khẩn “Thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời”, các Kitô hữu nài xin Đấng được đặc ân làm Thân Mẫu tinh tuyền của Chúa, hãy “cầu cho chúng con là những người tội lỗi”, và họ ký thác bản thân cho Người trong giây phút hiện tại và trong giờ phút trọng đại lúc lâm chung {3}.
 
2.- Kinh “Truyền Tin” cũng mời gọi suy ngắm Mầu nhiệm Nhập Thể, thúc giục người Kitô hữu hãy lấy Đức Maria như là điểm quy chiếu vào những thời khắc trong ngày, để bắt chước Người trong thái độ sẵn sàng thực hiện chương trình cứu rỗi của Thiên Chúa. Lời kinh này ra như làm cho chúng ta sống lại biến cố trọng đại của lịch sử nhân loại, nghĩa là Mầu nhiệm Nhập Thể, mà mỗi kinh “Kính mừng Maria” đã nhắc tới. Đó là giá trị và sự hấp dẫn của kinh “Truyền Tin”, đã được trình bày nhiều lần không những bởi những nhà thần học và các mục tử, mà cả do các thi sĩ và họa sĩ nữa.
 
Trong việc tôn kính Đức Maria, một chỗ đứng đặc biệt đã được dành cho Kinh Mân Côi, qua việc lặp lại những kinh “Kính mừng Maria”, người tín hữu được dẫn tới việc chiêm ngắm những mầu nhiệm đức tin. Kể cả kinh nguyện đơn giản này, trong khi nuôi dưỡng lòng mộ mến của dân Kitô hữu đối với Đức Mẹ Chúa Trời, cũng định hướng rõ rệt hơn kinh nguyện Maria tới mục tiêu của nó, đó là tôn vinh Chúa Kitô.
 
Đức Giáo Hoàng Phaolô VI, cũng như những vị tiền nhiệm, đặc biệt là Đức Lêô XIII, Piô XII và Gioan XXIII, rất quí trọng việc lần Chuỗi Mân Côi và ước ao được quảng bá trong các gia đình. Ngoài ra, trong Tông huấn Marialis Cultus, Đức Phaolô VI đã trình bày đạo lý nhắc nhở rằng đây là một “kinh nguyện Phúc Âm, đặt trọng tâm nơi Mầu nhiệm Nhập Thể cứu chuộc”, và “hoàn toàn quy hướng về Chúa Kitô” (số 46).
 
Kèm theo Kinh Mân Côi, lòng đạo đức bình dân thường thêm các Kinh Cầu, nổi tiếng hơn cả là kinh cầu được sử dụng tại thánh điện Lôrêto {4}. Qua các lời kêu khẩn rất đơn sơ, những kinh cầu này giúp cho chúng ta chú ý tới thân thế của Đức Maria, ngõ hầu nắm bắt tình thương mà Thiên Chúa Cha đã đổ tràn xuống nơi Người.
 
3.- Theo như Phụng Vụ và lòng đạo đức Kitô giáo đã cho thấy, Hội Thánh vẫn luôn luôn trân trọng lòng tôn sùng Đức Maria bởi vì nhận thấy nó gắn chặt với đức tin vào Chúa Kitô. Thực vậy, lòng tôn sùng Đức Maria đặt nền tảng ở trên chương trình của Chúa Cha, ý định của Chúa Cứu Thế và tác động linh ứng của Chúa Thánh Thần.
 
Đức Trinh Nữ Maria đã nhận lãnh sự cứu độ và ân sủng từ Đức Kitô, Người đã được kêu gọi để chu toàn một vai trò nổi bật trong việc cứu chuộc nhân loại. Qua việc tôn kính Đức Maria, các Kitô hữu nhìn nhận giá trị sự hiện diện của Đức Maria trên con đường tiến về ơn cứu độ, bằng cách chạy tới Người để xin hết mọi thứ ơn lành. Họ biết rằng mình có thể tin tưởng nơi lời chuyển cầu của Mẹ, để nhận lãnh nơi Thiên Chúa những gì cần cho sự phát triển đời sống siêu nhiên và đạt tới ơn cứu rỗi đời đời.
 
Những tước hiệu gán cho Đức Trinh Nữ và những cuộc hành hương không ngớt về các Đền Thánh Mẫu cho thấy rằng lòng tín thác của các tín hữu đối với Thân Mẫu Chúa Giêsu thúc đẩy họ kêu khấn Người trong những nhu cầu thường nhật. Họ chắc chắn rằng trái tim của người mẹ không thể nào bất động trước những nỗi khổ vật chất và tinh thần của con cái.
 
Do đó, việc tôn kính Đức Mẹ Chúa Trời, khi thúc đẩy lòng tin tưởng tự phát, thì góp phần vào việc giúp cho đời sống thiêng liêng được an bình, và giúp cho các tín hữu trên con đường cam go của các mối chân phúc.
 
4.- Sau cùng, chúng tôi muốn thêm rằng lòng tôn kính Đức Maria, khi làm nêu bật tính cách nhân bản của mầu nhiệm Nhập Thể, giúp cho chúng ta khám phá ra hơn khuôn mặt của Thiên Chúa biết chia sẻ những vui mừng và những đau khô của nhân loại, “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”, Đấng đã được thụ thai làm người trong cung lòng thanh sạch của Đức Trinh Nữ, đã được sinh ra, dưỡng dục và theo dõi với mối tình âu yếm từ những ngày ở Nadarét và Bêlem cho tới lúc tử nạn trên Thập Giá và Phục Sinh {5}.

Chú thích:
{1} Xc. bài 5; 66.
{2} Tuy phần thứ nhất của Kinh Kính Mừng lấy từ các bản văn của Tin Mừng Luca, nhưng mãi tới thế kỷ thứ V mới được dùng làm bản kinh. Phần thứ hai được thêm vào từ thế kỷ XIV.
{3} Xem thêm chú giải Kinh Kính Mừng ở Sách GLCG số 2676.
{4} Lôrêtô là một thị trấn ở miền Trung Italia, nơi lưu giữ một căn nhà tục truyền là căn nhà Nadarét nơi Đức Mẹ lãnh nhận sứ điệp Truyền Tin. Kinh cầu Lôrêtô được đọc sau Kinh Mân Côi, tại Việt Nam quen gọi là “Kinh cầu Đức Bà”.
{5} Về căn bản thần học của các kinh nguyện “cùng với” và “hướng tới” Đức Maria, xem Sách GLCG số 2673-2679; 971.
 
Đức thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II
(Bản dịch tiếng Việt của Linh mục Giuse Phan Tấn Thành, OP.)