29/07/2018
345
Những Huấn Giáo Của Đức Gioan Phaolô II Về Đức Maria

Lời người chuyển ngữ: Đức thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II đã dành 70 bài huấn giáo để nói về Đức Maria, kéo dài từ ngày 07.09.1995 đến ngày 13.11.1997.

Những đoạn cuối cùng của Hiến chế Tín lý về Hội Thánh đã giới thiệu Đức Maria như “dấu chỉ của lòng trông cậy vững vàng và niềm an ủi cho Dân Chúa đang lữ hành”. Đức Gioan Phaolô II cũng muốn kết thúc loạt bài huấn giáo về Mẹ Maria dưới chiều hướng hy vọng: hy vọng cho sự hợp nhất giữa các Kitô hữu; hy vọng cho sự hòa giải nhân loại.
****
BÀI 70: MẸ CỦA SỰ HIỆP NHẤT VÀ NIỀM HY VỌNG
 
1.- Sau khi đã trình bày những mối liên hệ giữa Đức Maria và Hội Thánh, Công Đồng Vaticanô II hân hoan khi nhận thấy Đức Trinh Nữ được tôn kính kể cả ở bên các Kitô hữu không thuộc về cộng đoàn công giáo: “vì thế thánh Công Đồng rất vui mừng và an ủi khi thấy ngay giữa các anh em ly khai, không thiếu những người dâng lên Thân Mẫu Chúa Cứu Thế vinh dự mà Người đáng được” (HT 69). Khi đi sâu vào vấn đề, chúng ta có thể nói rằng mặc dù chức làm Mẹ phổ quát của Đức Maria còn gây ra nhiều chia rẽ đau thương giữa các Kitô hữu, nhưng nó cũng tạo thành một dấu hiệu hy vọng lớn lao trên con đường đại kết.
 
Nhiều Giáo Hội Tin Lành {1}, dựa theo một quan điểm riêng biệt về ơn thánh và về Hội Thánh, đã chống lại đạo lý về việc tôn sùng Đức Maria, bởi vì họ cho rằng sự hợp tác của Đức Maria vào công trình cứu chuộc sẽ làm giảm sút vai trò môi giới duy nhất của Đức Kitô. Trong viễn ảnh đó, việc tôn kính Đức Maria ra như cạnh tranh với vinh quang đáng phải dành cho Chúa Con.
 
2.- Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, việc đào sâu tư tưởng của những nhà Cải Cách đầu tiên đã đem ra ánh sáng nhiều chủ trương cởi mở đối với quan điểm đạo lý Công Giáo. Chẳng hạn như những tác phẩm của ông Lutêrô đã bày tỏ lòng yêu mến và tôn kính đối với Đức Maria, được tuyên dương như là khuôn mẫu của mọi nhân đức. Ông ta chủ trương sự thánh thiện cao vời của Đức Mẹ Chúa Trời, và đôi khi còn nhìn nhận đặc ân Vô Nhiễm Nguyên Tội, và cũng chia sẻ với những nhà cải cách khác đức tin vào sự trinh khiết trọn đời của Đức Maria.
 
Việc nghiên cứu tư tưởng của ông Lutêrô và ông Calvinô, cũng như việc phân tích một vài văn phẩm của anh em Tin Lành, đã gây ra một sự chú ý mới đối với vài đề tài Thánh-mẫu-học về phía Tin Lành và Anh Giáo. Thậm chí một vài người đã đạt tới kết luận rất gần gũi với các người Công Giáo về những điểm căn bản của đạo lý về Đức Maria, tựa như Mẹ Thiên Chúa, đức trinh khiết, sự thánh thiện, chức làm mẹ tinh thần.
 
Mối quan tâm tới giá trị của sự hiện diện của người phụ nữ trong Hội Thánh đã cổ võ nỗ lực nhìn nhận vai trò của Đức Maria trong lịch sử cứu rỗi.
 
Những dữ kiện vừa rồi đã tạo nên những lý do hy vọng đối với con đường đại kết. Niềm ao ước mãnh liệt của các người Công Giáo là sẽ được chia sẻ với tất cả các anh chị em trong Đức Kitô niềm vui phát xuất từ sự hiện diện của Đức Maria trong cuộc sống theo Chúa Thánh Thần.
 
3.- Công Đồng nhắc lại rằng giữa những người anh em đã “dâng lên Mẹ của Chúa Cứu Thế danh dự Người đáng được”, đặc biệt là những anh em Đông Phương, “những người nhiệt thành và sốt sắng sùng kính Đức Mẹ Chúa Trời trọn đời đồng trinh” (HT 69).
 
Qua rất nhiều hình thức tôn sùng Đức Trinh Nữ Maria, chúng ta thấy rằng lòng tôn kính Đức Mẹ là một yếu tố đáng kể tạo ra sự thông hiệp giữa người Công Giáo và người Chính Thống, Tuy nhiên vẫn còn một vài sự khác biệt xung quanh các tín điều Vô Nhiễm Nguyên Tội và Hồn Xác Lên Trời, tuy rằng những chân lý đó vào lúc đầu đã được giải thích do một vài nhà thần học Đông Phương; chỉ cần nhắc lại những văn hào lớn như là Grêgoriô Palamas (+1359), Nicola Cabasilas (+ sau 1396), Giorgio Scholarios (+ sau 1472).
 
Tuy nhiên những sự khác biệt đó, có lẽ về hình thức phát biểu đạo lý hơn là về nội dung {2}, không được làm cho chúng ta quên đi niềm tin chung giữa hai bên về chức làm Mẹ Thiên Chúa của Đức Maria, về sự trinh khiết vẹn tuyền, về sự hoàn toàn thánh thiện, về sự chuyển cầu hiền mẫu bên cạnh Chúa Con. Như Công Đồng Vaticanô II đã nhắc tới, “nhiệt tình và lòng sùng kính này” liên kết các người Chính Thống và Công Giáo trong việc tôn kính dâng lên Đức Mẹ Chúa Trời.
 
4.- Vào cuối Hiến chế về Hội Thánh, Công Đồng mời gọi hãy ký thác cho Đức Maria công cuộc hợp nhất các Kitô hữu: “Tất cả mọi Kitô hữu hãy thiết tha khẩn nguyện Đức Mẹ Thiên Chúa và là Mẹ của loài người, ngõ hầu như xưa Người đã giúp buổi khai nguyên của Hội Thánh bằng lời cầu nguyện, thì ngày nay trên trời, được tôn vinh trên các thánh và các thiên thần trong sự thông hiệp của toàn thể các thánh, Người hãy cầu bầu bên cạnh Thánh Tử”.
 
Cũng như trong cộng đoàn tiên khởi, sự hiện diện của Đức Maria đã cổ động cảnh tâm đầu ý hợp, mà lời cầu nguyện đã siết chặt và bày tỏ hữu hình (Cv 1,14), thì việc thông hiệp sâu xa với Đấng mà thánh Augustinô đã gọi là “Mẹ của sự hiệp nhất” (Sermo 192, 2) sẽ có thể dẫn đưa các Kitô hữu được vui hưởng hồng ân của sự hiệp nhất rất đáng ước mong.
 
Những lời cầu nguyện của chúng ta được dâng lên Đức Trinh Nữ rất thánh cách thiết tha ngõ hầu, cũng như vào bước đầu Người đã nâng đỡ con đường của cộng đoàn các Kitô hữu hiệp nhất trong lời cầu nguyện và trong việc loan báo Tin Mừng, thì ngày hôm nay do lời chuyển cầu, mong Người đạt được tới sự hòa giải và thông hiệp trọn vẹn giữa các người tin vào Chúa Kitô.
 
Là mẹ của loài người, Đức Maria thấy rõ những nhu cầu và những khát vọng của nhân loại. Công Đồng đã xin Người hãy đặc biệt chuyển cầu ngõ hầu “các gia đình thuộc mọi dân tộc, cho dù đã mang danh là Kitô giáo hoặc là chưa biết Đấng Cứu Thế của mình, được may mắn đoàn tụ trong hân hoan và an bình, hoàn thành một dân Thiên Chúa duy nhất, ngõ hầu tôn vinh Ba Ngôi Thiên Chúa rất thánh và không phân chia” (HT 69).
 
Bình an, thuận hòa và hiệp nhất, đối tượng của niềm hy vọng của Hội Thánh và của nhân loại, xem ra còn xa vời. Tuy nhiên chúng cấu thành một hồng ân của Chúa Thánh Thần mà chúng ta cần phải kêu xin không ngừng, khi chúng ta đến thụ giáo ở nơi trường Đức Maria và tin tưởng nơi lời chuyển cầu của Người.
 
5.- Với lời khẩn nài đó, các Kitô hữu chia sẻ niềm khát vọng của Đấng được tràn đầy nhân đức trông cậy, đang nâng đỡ Hội Thánh trên con đường tiến tới tương lai của Chúa.
 
Nay đã đạt tới hạnh phúc “vì đã tin là Lời Chúa sẽ thực hiện” (Lc 1,45), Đức Trinh Nữ đồng hành với các tín hữu và với toàn thể Hội Thánh, ngõ hầu giữa những nỗi vui và thử thách ở cuộc đời này, họ được trở thành những ngôn sứ đích thực của niềm hy vọng không hững hờ.
 
Chú thích:
{1} Dựa theo sắc lệnh về Đại Kết của Công Đồng Vaticanô II, người ta thường phân chia các Giáo Hội ly khai thành hai khối chính: 1/ Các Giáo Hội bên Đông Phương (đa số thuộc các Giáo Hội Chính Thống). 2/ Các giáo đoàn ly khai bên Tây Phương, quen gọi là các Hội Thánh “Cải Cách” (Reformées), “Tin Lành” (Evangeliques). Tiếng “Thệ Phản” dịch từ “Protestants”, nhưng không đúng. Tự nó, “protester” chỉ có nghĩa là phản đối, phân trần.
{2} Nguồn gốc của hai tín điều vừa nói bắt nguồn từ lễ Phụng Vụ bên Đông Phương. (xc. bài 55), và đã được mọi người tin nhận. Tuy nhiên, các Giáo Hội Chính Thống không chấp nhận để cho một mình Giáo Hoàng tuyên bố tín điều. Theo truyền thống Đông Phương, các tín điều cần được tuyên bố ở Công Đồng.
 
Đức thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II
(Bản dịch tiếng Việt của Linh mục Giuse Phan Tấn Thành, OP.)