10/02/2018
398
Những Huấn Giáo Của Đức Gioan Phaolô II Về Đức Maria

Lời người chuyển ngữ: Đức thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II đã dành 70 bài huấn giáo để nói về Đức Maria, kéo dài từ ngày 07.09.1995 đến ngày 13.11.1997.

Đức Gioan Phaolô II ôn lại vài điểm chính của đạo lý Công đồng Vaticanô II về Đức Maria. Trước hết, Công đồng đã bàn về Đức Maria trong văn kiện về Hội Thánh, thay vì soạn một văn kiện riêng biệt. Đức Maria được nhìn trong mối tương quan với Chúa Kitô và với Hội Thánh. Dưới một viễn ảnh mới, Người được nhìn nhận như là “Mẹ của Hội Thánh”, cũng như là “điển hình” và “mẫu gương” cho Hội Thánh.
****

 
BÀI 9: SỰ HIỆN DIỆN CỦA ĐỨC MARIA TẠI CÔNG ĐỒNG VATICANO II
 
1.- Hôm nay tôi muốn dừng lại để suy nghĩ về sự hiện diện đặc biệt của “Mẹ của Hội Thánh” tại một biến cố chắc hẳn là quan trọng nhất trong thế kỷ chúng ta: Công đồng Vaticano II được khai mạc do Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII vào sáng ngày 11 tháng 10 năm 1962 và kết thúc do Đức Phaolô VI, ngày 08 tháng 12 năm 1965.
 
Một sắc thái Maria đã được ghi nhận nơi Công đồng này ngay từ khi triệu tập. Trong tông thư “Celebrandi Concilii Oecumenici” (11.04.1962), vị tiền nhiệm đáng kính của tôi, Đức Gioan XXIII, đã muốn ký thác Công đồng cho sự chuyển cầu quyền năng của Đức Maria, “Người mẹ của ơn thánh và vị bảo trợ trên trời của Công đồng”.
 
Kế đó, năm 1962, nhân dịp lễ Đức Maria chịu thanh tẩy, Đức Gioan XXIII đã ấn định khai mạc Công đồng vào ngày 11 tháng 10, và giải thích sự chọn lựa này là để nhớ đến Công đồng Êphêsô vào ngày hôm đó đã công bố Đức Maria là “Theotokos”, Thân Mẫu Thiên Chúa. Rồi trong bài diễn văn khai mạc, Đức Thánh Cha đã ký thác cho Đức Maria dưới tước hiệu “Người cứu giúp các Kitô hữu, Người cứu giúp các Giám mục” để xin Người cầu bầu với tình mẹ để cho công tác của Công đồng được kết thúc mỹ mãn.
 
Các Nghị phụ của Công đồng cũng hướng tới Đức Maria một cách minh thị trong sứ điệp gởi cho thế giới vào ngày khai mạc Công đồng, khi viết như sau: “Chúng tôi, những kẻ thừa kế các Tông Đồ, đang kết hiệp trong kinh nguyện cùng với Đức Maria, Thân Mẫu Đức Giêsu, họp thành một Đoàn Tông Đồ duy nhất”; như thế các nghị phụ đã muốn nối kết, trong sự thông hiệp với Đức Maria, với Hội Thánh nguyên thủy đón chờ Chúa Thánh Thần (xc. Cv 1,14).
 
2. Trong khóa họp thứ hai của Công đồng, người ta đã muốn du nhập thiên bàn về Đức Trinh Nữ Maria vào trong Hiến chế về Hội Thánh. Sáng kiến này, tuy đã được Ủy Ban Thần Học giới thiệu rõ ràng, nhưng đã gợi lên nhiều ý kiến tương phản.
 
Một vài người nghĩ rằng việc lồng trong Hiến chế về Hội Thánh thì sẽ không nêu bật đủ sứ mạng rất đặc biệt của Thân Mẫu Đức Giêsu ở trong Giáo Hội; vì thế, họ đã chủ trương soạn ra một văn kiện riêng biệt thì mới có thể diễn tả được chức phẩm cao quý, sự thánh thiện tuyệt vời, vai trò vô song của Đức Maria trong cuộc cứu chuộc mà Con của Người đã thực hiện. Thêm vào đó, họ cho rằng Đức Maria phần nào ở trên Hội Thánh, vì thế họ bày tỏ sự lo ngại rằng việc gắn liền đạo lý Đức Maria trong chương bàn về Hội Thánh thì sẽ không làm nổi bật xứng đáng những đặc ân của Đức Maria, vì sẽ thu gọn chức vụ của Người ngang với những phần tử khác của Hội Thánh (Acta Synodalia, II, III, 338-342).
 
Đối lại, một vài người khác đã ủng hộ đề nghị của Ủy Ban Thần Học, muốn trình bày đạo lý Đức Maria và về Hội Thánh trong một văn kiện duy nhất. Theo họ, hai thực thể này không thể được tách rời ra tại một công đồng chủ trương tái khám phá bản chất và sứ mạng của Dân Thiên Chúa. Vì thế, cần phải bày tỏ sự gắn bó sâu xa với Đấng đã trở thành điển hình và mẫu gương của Hội Thánh về đức trinh khiết và về chức làm mẹ. Thực vậy Đức Trinh Nữ Maria, trong tư cách là phần tử ưu việt của cộng đoàn Giáo Hội, đã chiếm một chỗ đứng đặc biệt trong đạo lý về Hội Thánh. Ngoài ra khi nêu bật sự liên kết giữa Đức Maria và Hội Thánh, đạo lý của Công đồng về Đức Maria sẽ trở nên dễ hiểu hơn đối với các Kitô hữu thuộc phái Tin Lành (Acta Synodalia, II, III, 343-345).
 
Như vậy, các Nghị phụ, tuy được thúc đẩy do cùng một lòng yêu mến Đức Maria, nhưng đã muốn nêu bật những khía cạnh khác nhau của khuôn mặt của Người, nên đã đi đến những chủ trương đạo lý khác nhau. Một vài người muốn chiêm ngưỡng Đức Maria cách đặc biệt trong mối tương quan với Chúa Kitô; một số người khác thì muốn nhìn ngắm Người như là một phần tử của Hội Thánh.
 
3.- Sau khi cân nhắc thâm sâu về đạo lý và bàn xét về thiên chức của Đức Maria Thân Mẫu Thiên Chúa cũng như về sự hiện diện đặc biệt của Người trong đời sống Hội Thánh, các nghị phụ đã quyết định xen khảo luận về Đức Maria vào trong văn kiện của Công đồng bàn về Hội Thánh (Acta Synodalia II, III, 627).
 
Bản lược đồ mới về Đức Trinh Nữ Maria, được soạn ra để được xen vào Hiến chế Tín lý về Hội Thánh, đã cho thấy một sự tiến triển thần học quan trọng. Việc nhấn mạnh đến đức tin của Đức Maria cũng như việc đặt đạo lý của Đức Maria trên nền tảng Kinh Thánh đã trở thành những yếu tố quan trọng và hữu ích để làm giàu cho lòng sùng kính và sự học hỏi của các Kitô hữu về Đức Thánh Mẫu. Với dòng thời gian, những nguy cơ về sự “hạ bệ” mà một vài nghị phụ lo ngại đã không xảy ra: sứ mạng và những đặc ân của Đức Maria đã được khẳng định một cách rộng rãi; sự cộng tác của Người vào công trình cứu rỗi của Thiên Chúa đã được nêu bật; việc dung hợp giữa sự cộng tác của Đức Maria với đạo lý về Đức Kitô Đấng Trung gian duy nhất đã thành sáng tỏ hơn.
 
Hơn nữa, lần đầu tiên, huấn quyền của Công đồng đã trình bày cho Giáo Hội một học thuyết về vai trò của Đức Maria trong chương trình cứu chuộc của Đức Kitô và trong đời sống của Hội Thánh.
 
Vì thế chúng ta phải nhìn nhận rằng sự lựa chọn của các nghị phụ thực là một quyết định do Chúa quan phòng, bởi vì nó đã mang nhiều hậu quả phong phú cho công cuộc nghiên cứu đạo lý sau này.
 
4.- Trong các khóa họp Công đồng, đã có một thỉnh nguyện của nhiều nghị phụ muốn tăng gia đạo lý về Đức Maria với những định tín về vai trò của Đức Maria vào công trình cứu chuộc {1}. Khung cảnh đặc biệt của các cuộc tranh luận về Đức Maria tại công đồng Vaticanô II đã không cho phép chấp nhận những ước nguyện đó, dù khá phổ biến. Dù sao thì toàn bộ những học thuyết của Công đồng về Đức Maria vẫn được vững chắc và quân bình, và những đề tài nói trên tuy không được định tín, nhưng đã được bàn giải sâu xa trong toàn bộ khảo luận về Đức Maria.
 
Vì thế những dè dặt của một vài nghị phụ đối với tước hiệu “Mẹ Trung Gian” đã không ngăn trở Công đồng một lần sử dụng nó, và khẳng định, - cùng với vài từ ngữ khác-, vai trò trung gian của Đức Maria qua việc chấp thuận lời thiên sứ truyền tin để trở thành người mẹ trong hệ trật ân sủng (xc. HT 62) {2}. Ngoài ra, Công đồng đã khẳng định sự hợp tác của Người “một cách hết sức đặc biệt” vào công trình tái tạo đời sống siêu nhiên trong các linh hồn (xc. HT 61). Sau cùng dù tránh sử dụng tước hiệu “Mẹ của Hội Thánh”, bản văn của Hiến chế đã nhấn mạnh rõ ràng rằng Hội Thánh đã tôn kính Đức Maria như là người mẹ rất đáng yêu mến {3}.
 
Đọc suốt khảo luận của chương 8 của Hiến chế Tín lý về Hội Thánh, chúng ta thấy rằng những sự dè dặt về từ ngữ đã không ngăn trở việc trình bày một đạo lý với nội dung sâu sắc tích cực, biểu hiện của niềm tin và lòng yêu mến đối với Đấng mà Hội Thánh nhận là mẹ và mẫu gương cho đời sống của mình.
 
Mặt khác, những quan điểm khác nhau của các nghị phụ, nảy lên trong các cuộc tranh luận tại Công đồng, quả là nằm trong chương trình của Chúa quan phòng, bởi vì khi đối chiếu và hòa hợp với nhau, các ý kiến đó giúp cho lòng tin và thảo hiếu của Dân Chúa một sự trình bày hoàn bị và quân bình hơn về thiên chức của Thân Mẫu Chúa Giêsu và về vai trò của Người trong công trình cứu chuộc.
 
Chú thích:
{1} Một số nghị phụ đã yêu cầu công đồng định tín đạo lý Đức Mẹ “Đồng công cứu chuộc” và “Trung gian các ơn”.
{2} Xc. bài 64-65 dưới đây.
{3} Xc. bài 63 dưới đây.
 
Đức thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II
(Bản dịch tiếng Việt của Linh mục Giuse Phan Tấn Thành, OP.)